Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bống Hữu Thịnh tiếp cận thực trạng phát triển kinh tế nông hộ tại xã Xuân Tầm, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – một địa bàn miền núi vùng sâu, vùng xa thuộc diện đặc biệt khó khăn (vùng 135). Tại địa phương, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đa số (riêng dân tộc Dao chiếm tới 96,3%), tập quán canh tác nông nghiệp còn nặng tính tự cung tự cấp, trình độ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật hạn chế, dẫn đến tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn ở mức cao. Cây quế được xác định là cây trồng lâm nghiệp chủ lực mang lại sinh kế và giá trị kinh tế then chốt cho địa phương (với quy mô trên 2.000 ha, doanh thu khai thác năm 2017 đạt hơn 20 tỷ đồng). Tuy nhiên, chu kỳ sinh trưởng của cây quế kéo dài từ 10 đến 15 năm, đòi hỏi nguồn vốn đầu tư ban đầu lớn để mua cây giống, đất đồi và thuê nhân công. Trong khi đó, năng lực tiếp cận các nguồn tín dụng chính sách và thương mại của người dân còn nhiều rào cản.

Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài được thực hiện nhằm làm rõ hoạt động của đội ngũ cán bộ nông nghiệp (CBNN) cấp xã – lực lượng đóng vai trò cầu nối kỹ thuật và chính sách – trong việc hỗ trợ các hộ trồng quế tiếp cận các khoản vay vốn.

Mục tiêu chung của nghiên cứu là tìm hiểu vai trò của cán bộ nông nghiệp trong hỗ trợ các hộ trồng quế tiếp cận các khoản vốn vay trên địa bàn xã Xuân Tầm, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ này.

Nghiên cứu xác định 4 mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả hoạt động của cán bộ nông nghiệp xã Xuân Tầm.
  2. Mô tả công việc thực tế của cán bộ nông nghiệp trong hỗ trợ các hộ trồng quế tiếp cận các khoản vay vốn.
  3. Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của cán bộ nông nghiệp trên địa bàn xã Xuân Tầm.
  4. Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực vai trò của cán bộ nông nghiệp kinh tế nông hộ và phát triển kinh tế nông hộ tại xã Xuân Tầm, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hoạt động và vai trò của cán bộ phụ trách nông nghiệp xã, gắn với tình hình tiếp cận các khoản vốn vay sản xuất của các hộ trồng quế.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Phạm vi không gian: Thực hiện tại địa bàn xã Xuân Tầm, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái (khảo sát trực tiếp tại trụ sở UBND xã và các thôn bản như Khe Đóm 1, Khe Lép, Khe Chung 2, Khe Chung 3).
  • Phạm vi thời gian: Quá trình thực tập và điều tra thực tế diễn ra từ ngày 15/08/2017 đến ngày 15/11/2017; các chuỗi số liệu thứ cấp về kinh tế - xã hội, nông nghiệp của địa phương được thu thập trong giai đoạn 2015–2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các quy định pháp luật và lý thuyết quản lý hành chính nhà nước về nông nghiệp cơ sở:

  • Khung khái niệm: Phân định khái niệm cán bộ và công chức theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008. Xác định rõ khái niệm cán bộ phụ trách nông nghiệp cấp xã là công chức, viên chức hoặc cán bộ được tuyển dụng, bổ nhiệm thực hiện chức năng tham mưu, hỗ trợ phát triển nông nghiệp, liên kết nông dân và phổ biến chính sách pháp luật.
  • Bộ tiêu chuẩn yêu cầu đối với CBNN cấp xã: Bao gồm khối kiến thức chuyên môn (kỹ thuật nông lâm nghiệp, kinh tế - xã hội nông thôn, chính sách nhà nước về nông nghiệp, phương pháp giáo dục người lớn tuổi) và hệ thống kỹ năng thực hành (lập kế hoạch, truyền thông, thuyết trình, phân tích đánh giá tình huống, năng lực lãnh đạo, viết báo cáo kỹ thuật và kỹ năng làm việc với lãnh đạo cùng mạng lưới cộng tác viên thôn bản).
  • Khung pháp lý điều chỉnh:
    • Thông tư liên tịch số 61/2008/TTLT-BNN-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp xã về nông nghiệp và PTNT.
    • Thông tư số 04/2009/TT-BNN hướng dẫn nhiệm vụ của cán bộ, nhân viên chuyên môn, kỹ thuật nông nghiệp và PTNT cấp xã.
    • Quyết định số 83/2007/QĐ-BNN về nhiệm vụ của công chức Kiểm lâm địa bàn cấp xã.
    • Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016–2020.
    • Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Kế thừa dữ liệu từ sách báo, tài liệu chuyên ngành, báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội thường niên của UBND xã Xuân Tầm năm 2017, Niên giám thống kê huyện Văn Yên năm 2015 và 2016.
  • Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
    • Phương pháp quan sát trực tiếp: Theo dõi tác phong công vụ, quy trình xử lý văn bản, điều hành hội họp và các hoạt động chỉ đạo sản xuất trên đồng ruộng của cán bộ nông nghiệp.
    • Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn cán bộ cơ sở hướng dẫn (cán bộ nông nghiệp xã) và lãnh đạo UBND xã về chức năng, thẩm quyền và khó khăn trong thực thi công vụ.
    • Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Khảo sát chọn mẫu ngẫu nhiên $n = 26$ hộ trồng quế có kinh nghiệm lâu năm (dựa trên danh sách thống kê hộ sản xuất quế của xã, bao gồm cả các cá nhân giữ cương vị đoàn thể, trưởng thôn như Chủ tịch Hội Nông dân xã, Trưởng thôn Khe Đóm 1).
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Toàn bộ số liệu sơ cấp và thứ cấp sau khi thu thập được tiến hành làm sạch, loại bỏ sai lệch và tổng hợp theo phương pháp thống kê mô tả (tính số bình quân, cơ cấu tỷ lệ phần trăm và đối chiếu dữ liệu qua các bảng biểu).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần này thiết lập cơ sở khoa học của đề tài thông qua việc chỉ rõ sự cần thiết phải có đội ngũ cán bộ nông nghiệp đồng hành cùng nông dân vùng cao trong chuyển giao khoa học kỹ thuật và khơi thông nguồn vốn sản xuất. Tác giả xác lập hệ thống mục tiêu, nội dung nghiên cứu, phương pháp tiếp cận và kế hoạch thực tập trong 3 tháng tại xã Xuân Tầm, huyện Văn Yên. Đồng thời, tác giả đưa ra các yêu cầu khắt khe về chuyên môn nghiệp vụ, kỷ luật lao động và tác phong ứng xử tại cơ sở thực tập.

Phần 2: Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn

Tác giả hệ thống hóa các căn cứ pháp lý, vai trò, chức năng và chuẩn năng lực cần có của cán bộ phụ trách nông nghiệp cấp xã. Về cơ sở thực tiễn, tác giả phân tích đặc điểm nông nghiệp Việt Nam trong quá trình chuyển dịch cơ cấu hàng hóa; tổng quan tiềm năng nông nghiệp tỉnh Yên Bái và thế mạnh huyện Văn Yên:

  • Tỉnh Yên Bái có 5.850,9 km² đất nông nghiệp (chiếm 84,96% diện tích tự nhiên), độ che phủ rừng trên 62% (đứng thứ 2 cả nước). Diện tích quế toàn tỉnh đạt 30.000 ha, tập trung lớn nhất tại huyện Văn Yên (16.000 ha), Trấn Yên (6.600 ha), Văn Chấn (5.000 ha); sản lượng khai thác hàng năm đạt từ 2.000 đến 4.000 tấn vỏ quế khô.
  • Huyện Văn Yên có diện tích đất tự nhiên 139.033,9 ha (trong đó đất nông nghiệp chiếm 94,01% với 130.699,8 ha; đất lâm nghiệp chiếm 104.379,1 ha). Dân số năm 2016 là 123.056 người, gồm 11 dân tộc (Kinh chiếm 52,86%, Dao chiếm 25,4%, Tày chiếm 15,58%). Toàn huyện khai thác bình quân hàng năm 45.000 m³ gỗ rừng trồng, 25.000 tấn nguyên liệu giấy, 4.000 tấn vỏ quế khô; đã bảo tồn được 90 cây quế giống lá nhỏ ngọn đỏ và 14 ha quế giống tập trung.

Phần 3: Kết quả thực tập

Đây là phần trọng tâm trình bày chi tiết các dữ liệu khảo sát thực tế tại địa bàn cơ sở:

1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Xuân Tầm

Xã có tổng diện tích tự nhiên 7.320 ha; địa hình đồi núi dốc hiểm trở (độ dốc bình quân 37–55 độ, độ cao 1.900m so với mực nước biển), cách trung tâm huyện 35 km.

  • Hiện trạng đất đai năm 2017: Đất nông nghiệp đạt 4.392,0 ha (chiếm 60,0% diện tích tự nhiên; trong đó đất sản xuất nông nghiệp 778,4 ha; đất lâm nghiệp 558,8 ha); đất phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng thấp (đất chuyên dùng 422,5 ha, đất sông suối mặt nước 553,0 ha); đất chưa sử dụng 1.098,0 ha (15,0%). Tổng diện tích rừng giao khoán bảo vệ là 5.966,3 ha (rừng trồng 3.531,5 ha; rừng tự nhiên 1.436,3 ha; rừng phòng hộ 998,5 ha).
  • Dân số và lao động: Toàn xã có 629 hộ với 2.866 nhân khẩu (96,3% là người Dao). Lực lượng lao động đạt 1.912 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 93,7% (1.791 người), lao động phi nông nghiệp chỉ chiếm 6,3% (121 người).
  • Hạ tầng: Toàn xã có 43 km đường giao thông, mới bê tông hóa được 14 km (đạt 32,5%), còn lại là đường dải đá đã xuống cấp nghiêm trọng do xe thương lái vào thu mua quế; 19/25 công trình thủy lợi được kiên cố hóa (đạt 76%).
  • Tình hình sản xuất: Cây hàng năm mang tính tự cấp tự túc (lúa đạt 140 ha, sản lượng 624 tấn; ngô 140 ha, sản lượng 458 tấn; sắn 306 ha, sản lượng 7.000 tấn; gừng 34 ha, sản lượng 1.244 tấn). Chăn nuôi năm 2017 có sự sụt giảm ở đàn trâu (825 con) và đàn bò (313 con) so với năm 2016 do thu hẹp bãi chăn thả và cơ giới hóa nông nghiệp thay thế sức kéo. Cây quế là nguồn thu nhập chủ đạo với diện tích trên 2.000 ha, thu về hơn 20 tỷ đồng năm 2017.

2. Vai trò thực tế của cán bộ nông nghiệp xã

Cán bộ nông nghiệp xã Xuân Tầm được khảo sát là ông Bàn Tòn Nhất (32 tuổi, dân tộc Dao, trình độ chuyên môn Đại học ngành Trồng trọt).

  • Công việc đảm nhiệm: Tham mưu cho UBND xã thực hiện quản lý nhà nước về nông nghiệp, giao thông, thủy lợi, xây dựng nông thôn mới; tiếp nhận công văn, lập báo cáo chuyên đề định kỳ tháng/quý; giải quyết tranh chấp đất đai tại cơ sở; tổ chức vận động và hướng dẫn nông dân áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật; tham gia phòng chống thiên tai và dịch bệnh cây trồng, vật nuôi.
  • Phát hiện quan trọng của nghiên cứu: Tại xã Xuân Tầm, cán bộ nông nghiệp hoàn toàn không đảm nhiệm công việc hỗ trợ các hộ trồng quế tiếp cận các khoản vốn vay. Nhiệm vụ tín dụng và vay vốn do các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên xã) phối hợp với các tổ vay vốn thôn bản và ngân hàng thực hiện.

3. Thực trạng tiếp cận thị trường và vay vốn của các hộ trồng quế

Điều tra ngẫu nhiên 26 chủ hộ trồng quế cho thấy:

  • Đặc điểm nông hộ: Độ tuổi trung bình của chủ hộ là 42,3 tuổi; trình độ văn hóa trung bình chỉ đạt 4,5 lớp (hết bậc tiểu học), chỉ 1 người có trình độ đại học tại chức; quy mô nhân khẩu bình quân 5,0 người/hộ nhưng chỉ có 2,8 lao động.
  • Tiếp cận thị trường: Khoảng cách từ nhà đến đường chính trung bình 4,4 km; đến chợ Du Hạ 8 km; đến trung tâm huyện (thị trấn Mậu A) 40 km; tần suất đi chợ trung tâm bình quân 1,8 lần/tháng.
  • Cơ cấu thu nhập: Thu nhập bình quân của hộ đạt 3,5 triệu đồng/tháng (trong đó thu từ quế chiếm 76,1%, nông nghiệp khác 1,5 triệu đồng, phi nông nghiệp 0,9 triệu đồng).
  • Tình hình vay vốn tín dụng: Có 19/26 hộ tham gia vay vốn, tổng dư nợ đạt 568 triệu đồng.
Phân nhóm hộ Số hộ điều tra Số hộ vay Tổng số vốn vay (triệu đồng) Vốn vay bình quân/hộ (triệu đồng) Tỷ lệ cơ cấu vay theo nhóm (%) Nguồn vốn ngân hàng
Hộ khá 2 2 80 40,0 41,4% NHCSXH, NHNN&PTNT
Hộ trung bình 10 10 300 30,0 30,9% NHCSXH, NHNN&PTNT
Hộ nghèo, cận nghèo 14 7 188 26,8 27,7% NHCSXH
Tổng cộng 26 19 568 - 100% -
  • Mục đích sử dụng vốn vay (tổng số 568 triệu đồng):
    • Đầu tư trồng quế: 385 triệu đồng (chiếm 67,8%).
    • Đầu tư sản xuất kinh doanh: 100 triệu đồng (chiếm 17,6%).
    • Đầu tư chăn nuôi: 40 triệu đồng (chiếm 7,0%).
    • Mục đích khác (làm nhà, mua sắm đồ dùng gia đình): 43 triệu đồng (chiếm 7,6%).
  • Kênh thông tin tiếp cận khoản vay (tính trên 19 hộ vay):
    • Qua UBND xã Xuân Tầm: 7 hộ (chiếm 36,8%).
    • Qua Trưởng thôn: 5 hộ (chiếm 26,4%).
    • Qua Cán bộ ngân hàng: 3 hộ (chiếm 15,8%).
    • Qua Tổ vay vốn thôn: 3 hộ (chiếm 15,8%).
    • Qua Hội Phụ nữ: 1 hộ (chiếm 5,2%).
    • Kênh Cán bộ nông nghiệp: 0 hộ (0%).

4. Hoạt động thực tế sinh viên tham gia cùng cơ sở

  • Tham gia chỉ đạo công tác phòng trừ sâu bệnh vụ mùa năm 2017: Soạn thảo thông báo khẩn của UBND xã, phối hợp xử lý dập dịch sâu bệnh thành công trên diện tích 80 ha lúa (còn 15 ha chưa xử lý triệt để do hộ dân không phun thuốc đúng lịch khuyến cáo).
  • Tham gia tổ chức tập huấn kỹ thuật phòng trừ rầy nâu hại lúa tại thôn Khe Chung 3: Phổ biến nguyên tắc "4 đúng", hướng dẫn pha chế thuốc Penalty Gold 50 EC, Victory 585 EC, Tasodant 600 WP, kỹ thuật rẽ lúa thành từng băng 5–6 hàng để phun trực tiếp vào gốc lúa với liều lượng 12–16 lít nước thuốc/sào (360 m²).
  • Tham gia các hoạt động công sở và cộng đồng: Dự họp giao ban tuần, chuẩn bị khánh tiết phòng họp; tham gia đêm hội trăng rằm tại thôn Khe Đóm, hỗ trợ dựng nhà tình nghĩa cho hộ ông Bàn Tòn Khé tại thôn Khe Lép, sửa chữa đường giao thông liên thôn tại thôn Khe Chung 2.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính của nghiên cứu:

  • Chỉ ra sự khác biệt giữa giả định lý thuyết ban đầu và thực tiễn tổ chức bộ máy cơ sở: Cán bộ nông nghiệp xã không thực hiện chức năng hỗ trợ tín dụng hay làm cầu nối vốn vay cho các hộ trồng quế. Trách nhiệm này hoàn toàn thuộc về các tổ chức hội đoàn thể và ban quản lý tổ vay vốn thôn bản.
  • Lượng hóa chi tiết cơ cấu tiếp cận vốn vay của các hộ trồng quế tại xã vùng 135: Tỷ lệ vốn vay phục vụ trực tiếp cho cây quế chiếm đa số tuyệt đối (67,8%); hộ nghèo và cận nghèo có quy mô vốn vay bình quân thấp nhất (26,8 triệu đồng/hộ) và phụ thuộc hoàn toàn vào Ngân hàng Chính sách xã hội do tâm lý e ngại rủi ro và thiếu kiến thức kinh doanh.

Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:

  • Đối với người dân: Cần chủ động thay đổi tư duy sản xuất tự cấp tự túc, tích cực tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật thâm canh quế; mạnh dạn tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi và sử dụng vốn đúng mục đích sản xuất kinh doanh thay vì chi tiêu sinh hoạt.
  • Đối với cấp xã: Cần xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành giữa cán bộ nông nghiệp xã với các tổ chức đoàn thể (Hội Nông dân, Phụ nữ, Cựu chiến binh) và tổ vay vốn thôn; lồng ghép công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật với quy trình thẩm định phương án vay vốn; đầu tư nâng cấp mạng lưới giao thông liên thôn để giảm chi phí lưu thông hàng hóa.
  • Đối với cán bộ nông nghiệp: Cần chủ động nắm bắt các chính sách tín dụng nông nghiệp nông thôn để tư vấn cho người dân; đổi mới phương pháp tập huấn theo hướng thực hành "cầm tay chỉ việc"; tăng cường thời gian bám sát đồng ruộng, địa bàn thôn bản thay vì giải quyết các thủ tục hành chính tại công sở.

Đóng góp của khóa luận: Cung cấp bức tranh thực địa xác thực về mô hình hoạt động của cán bộ nông nghiệp xã miền núi phía Bắc; bổ sung dữ liệu thực tế về chuỗi sản xuất - tín dụng quế tại huyện Văn Yên; làm rõ những khoảng trống trong việc kết nối giữa hỗ trợ kỹ thuật khuyến nông với hỗ trợ vốn tín dụng phục vụ phát triển kinh tế nông hộ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát sơ cấp còn hẹp, dừng lại ở cỡ mẫu $n = 26$ hộ trồng quế trên địa bàn một xã do điều kiện giao thông hiểm trở (đường dải đá xuống cấp, tỷ lệ bê tông hóa mới đạt 32,5%) và thời gian thực tập giới hạn trong 3 tháng.
  • Nhận thức và trình độ học vấn của người dân địa phương còn thấp (trung bình học lớp 4,5), gây khó khăn nhất định cho tác giả trong việc thu thập và chuẩn hóa thông tin qua bảng hỏi.
  • Đề tài gặp độ lệch giữa mục tiêu nghiên cứu ban đầu với phân công công việc thực tế tại cơ sở (cán bộ nông nghiệp không quản lý mảng vay vốn), khiến các phân tích về sự hỗ trợ trực tiếp của cán bộ nông nghiệp đối với tiếp cận vốn vay không thể triển khai sâu như kế hoạch đề ra.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát điều tra trên toàn bộ các xã trọng điểm vùng quế của huyện Văn Yên nhằm nâng cao tính đại diện của mẫu dữ liệu.
  • Tập trung nghiên cứu sâu cơ chế phối hợp tối ưu giữa hệ thống khuyến nông cấp cơ sở với các tổ chức tín dụng ủy thác, nhằm xây dựng mô hình liên kết khép kín giữa cấp vốn và hướng dẫn kỹ thuật canh tác quế theo chuỗi giá trị.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên các ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Khuyến nông và Quản lý công khi tìm hiểu về phương thức vận hành bộ máy chuyên trách nông nghiệp cấp xã và kỹ năng thực tập nghề nghiệp tại cơ sở.
  • Cán bộ quản lý cấp xã, huyện trong việc tham khảo số liệu thực tế về nhu cầu vốn của nông hộ vùng quế, từ đó hoàn thiện cơ chế ủy thác tín dụng và quy hoạch hạ tầng giao thông nông thôn.
  • Các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật: Phần ghi chép quy trình phòng trừ rầy nâu và sâu bệnh hại lúa mùa tại thực địa là tài liệu tham khảo cụ thể cho công tác khuyến nông cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

1. Cán bộ nông nghiệp xã Xuân Tầm có trực tiếp làm thủ tục hoặc hướng dẫn nông dân tiếp cận vốn vay không? Không. Khảo sát thực tế của khóa luận xác nhận cán bộ nông nghiệp xã chỉ đảm nhiệm công tác tham mưu hành chính, báo cáo chuyên môn, giải quyết tranh chấp đất đai và chuyển giao kỹ thuật. Toàn bộ hoạt động hỗ trợ vay vốn do các hội đoàn thể (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên) và tổ vay vốn thôn bản phụ trách.

2. Người dân trồng quế tại xã Xuân Tầm tiếp cận thông tin vốn vay chủ yếu qua những đầu mối nào? Theo kết quả điều tra 19 hộ có vay vốn, kênh thông tin lớn nhất là thông qua UBND xã (chiếm 36,8%), tiếp theo là Trưởng thôn (chiếm 26,4%), Cán bộ ngân hàng (15,8%), Tổ vay vốn thôn (15,8%) và Hội Phụ nữ (5,2%).

3. Tỷ trọng thu nhập từ cây quế và mục đích vay vốn của các hộ dân được khảo sát như thế nào? Cây quế mang lại nguồn thu nhập áp đảo, chiếm 76,1% tổng thu nhập của các hộ điều tra (thu nhập bình quân đạt 3,5 triệu đồng/tháng/hộ). Tương ứng, mục đích vay vốn để đầu tư vào cây quế chiếm tỷ lệ cao nhất với 67,8% tổng nguồn vốn vay (tương đương 385 triệu đồng trên tổng số 568 triệu đồng).

4. Trình độ học vấn của các chủ hộ trồng quế tại địa bàn khảo sát có đặc điểm gì? Trình độ văn hóa trung bình của các chủ hộ được điều tra rất thấp, chỉ đạt mức 4,5 lớp (tương đương trình độ tiểu học). Trong số 26 hộ điều tra ngẫu nhiên, chỉ duy nhất có 01 cá nhân có trình độ đại học tại chức (chủ hộ là Chủ tịch Hội Nông dân xã).

5. Vì sao đàn trâu và đàn bò của xã Xuân Tầm lại có xu hướng suy giảm trong giai đoạn 2016–2017? Theo số liệu thống kê của xã, đàn trâu giảm từ 875 con (năm 2016) xuống 825 con (năm 2017), đàn bò giảm từ 371 con xuống 313 con. Nguyên nhân do diện tích chăn thả tự nhiên bị thu hẹp dần và người dân chuyển sang sử dụng máy cày bừa cơ giới, giảm bớt nhu cầu sử dụng gia súc lớn làm sức kéo.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Bống Hữu Thịnh đã phản ánh chân thực thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp và vai trò thực tế của cán bộ nông nghiệp tại xã Xuân Tầm, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Nghiên cứu chỉ ra sự tách biệt giữa chức năng chuyển giao kỹ thuật của cán bộ nông nghiệp với kênh hỗ trợ vốn tín dụng do các hội đoàn thể cơ sở đảm nhiệm. Những số liệu thực địa về kinh tế nông hộ và cơ cấu vay vốn trồng quế là cơ sở thực tiễn giá trị để hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển nông thôn tại các địa bàn vùng cao đặc biệt khó khăn.