Chương 1 nêu các khái niệm liên quan, hệ thống lý thuyết ứng dụng trong quá trình nghiên cứu và giới thiệu về địa bàn nghiên cứu. Thực trạng việc thực hiện ưu đãi xã hội đối với thương binh, bệnh binh tại huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội Chƣơng 3. Các biện pháp nhằm thực hiện hiệu quả hơn ưu đãi xã hội đối với thương binh, bệnh binh tại huyện Thanh Trì, Hà Nội 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Các khái niệm liên quan 1. Chính sách là gì? Theo Từ điển tiếng Việt thì “chính sách” là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”. Theo tác giải Vũ Cao Đàm thì “chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”. Theo tác giả thì khái niệm “hệ thống xã hội” được hiểu theo một ý nghĩa khái quát.
Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường. Chính sách xã hội Theo tác giả Bùi Đình Thanh, chủ nhiệm chương trình khoa học - công nghệ cấp Nhà nước KX-04 Chính sách xã hội - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn luận giải: Chính sách xã hội là cụ thể hóa và thể chế hóa bằng pháp luật những đường lối, chủ trương, những biện pháp để giải quyết các vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm của những chủ thể lãnh đạo, phù hợp với bản chất chế độ xã hội - chính trị, phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và của từng nhóm xã hội nói riêng nhằm mục đích cao nhất là thỏa mãn những nhu cầu[36] Chính sách xã hội là một hệ thống những quan điểm, chủ trương, phương hướng, biện pháp của nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội khác được thể chế hoá bằng pháp luật của Nhà nước để giải quyết các vấn đề xã hội phù hợp với bản chất chế độ xã hội, phản ánh lợi ích, trách nhiệm của cộng đồng nói 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chung và của từng nhóm xã hội nói riêng, nhằm mục đích thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, góp phần ổn định, an toàn xã hội, phát triển xã hội [12]. Chính sách xã hội là chính sách đối với con người, tìm cách tác động vào các hệ thống quan hệ xã hội (quan hệ các giai cấp, các tầng lớp xã hội, quan hệ các nhóm xã hội khác nhau) tác động vào hoàn cảnh sống của con người và của các nhóm xã hội, (bao gồm điều kiện lao động và điều kiện sinh hoạt) nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, bảo đảm và thiết lập được công bằng xã hội trong điều kiện xã hội nhất định Theo nhà xã hội học Xô Viết V.Rogovin: “Với tính cách là một bộ môn khoa học, chính sách xã hội là một lĩnh vực tri thức xã hội học, nghiên cứu hệ thống về các quá trình xã hội quyết định hoạt động sống của con người trong xã hội, xét theo khả năng tác động quản lý đến các quá trình đó. Có đầy đủ cơ sở để coi chính sách xã hội như là sự hòa quyện của khoa học và thực tiễn, như là sự phân tích phức hợp, dự báo về các quan hệ, các quá trình xã hội và sự vận dụng thực tiễn những tri thức thu thập được nhằm mục đích quản lý các quá trình và các quan hệ ấy” [56] 1.
Ưu đãi xã hội và Trợ giúp xã hội Ưu đãi xã hội: Là sự đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất và tinh thần của Nhà nước và xã hội nhằm ghi nhận và đền đáp công lao đối với cá nhân hay tập thể có những cống hiến đặc biệt cho cộng đồng, xã hội. Ưu đãi xã hội đối với người có công: là việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần cho người có công và gia đình họ. Ưu đãi xã hội đối với người có công là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội mang tính chất chính trị, xã hội rộng lớn và sâu sắc, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam, tạo điều kiện ổn định cuộc sống người có công và gia đình họ [12]. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chính sách ưu đãi xã hội là sự phản ánh trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng xã hội, là sự đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất và tinh thần của Nhà nước và xã hội nhằm ghi nhận và đền đáp công lao đối với cá nhân hay tập thể có nhưng cống hiến đặc biệt với cộng đồng và xã hội.
Mục đích của ưu đãi xã hội: ƯĐXH nhằm là ghi nhận và tri ân những cá nhân hay tập thể đã có những cống hiến đặc biệt cho cộng đồng và cho đất nước. Nhằm đảm bảo công bằng xã hội, vì ai cống hiến nhiều cho xã hội, người đó phải được hưởng nhiều, đây là sự cống hiến đặc biệt, cống hiến bằng xương máu. Nhằm tái sản xuất những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc và giáo dục truyền thống cho những thế hệ tương lai. Cuối cùng, ƯĐXH góp phần đảm bảo ổn định thể chế chính trị của Nhà nước Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình.
Là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng và xã hội bằng tiền hoặc bằng các điều kiện và phương tiện thích hợp để đối tượng được giúp đỡ có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình, sớm hòa nhập trở lại với cuộc sống của cộng đồng[1]. Người có công Có tác giả cho rằng: “Người có công là những người lao động bình thường, làm việc đại nghĩa, có công lao to lớn đối với đất nước, tự coi đó là nghĩa vụ đối với cộng đồng không bao giờ kể công và đòi hỏi cộng đồng báo nghĩa” [38] 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Người có công với Cách mạng được hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm và được Nhà nước tặng kỷ niệm chương Tổ quốc ghi công hoặc bằng có công với nước, huân chương kháng chiến, huy chương kháng chiến. Theo Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH2013 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 13 về sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với Cách mạng. Quy định tại Điều 1: Khoản 1 Điều 2 được sửa đổi, bổ sung: Người có công với cách mạng bao gồm: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; Liệt sĩ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng.
Thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh Thương binh: Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, khái niệm thương binh ngày càng có nhiều thay đổi cho phù hợp. Do đó, tìm hiểu khái niệm thương binh cũng dựa trên những quy định của pháp luật theo từng thời kỳ lịch sử. Để hiểu được cụ thể về khái niệm này một cách tường tận, chúng ta có thể xem xét nguồn gốc hình thành hai chữ: “thương binh” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng và nêu lên những quan điểm ưu đãi người có công với cách mạng trong đó có thương binh. Lần đầu tiên Bác nói đến khái niệm “thương binh” khi gửi lời khen ngợi các chiến sỹ bị thương và sự tận tâm của các y bác sỹ khám hộ, cứu thương ngày 08/01/1947: “Tôi 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiếp nhiều nam, nữ chiến sỹ bị thương hăng hái hứa với tôi rằng hễ vết thương khỏi, thì lại xin ra mặt trận… Các chiến sỹ đã hy sinh xương máu để giữ gìn đất nước, nay đã bị thương mà còn mong mỏi đi đánh giặc… Tôi được báo cáo rằng: Các thầy thuốc và khám hộ đều hết lòng săn sóc thương binh một cách chu đáo” [30].
Lời của Bác giản dị mà sâu sắc, ngắn gọn mà dễ hiểu và rất đầy đủ về thương binh – thương binh là các chiến sỹ đã “hy sinh xương máu để giữ gìn đất nước”. Đặc biệt, trong bức thư gửi Ban thường trực của Ban Tổ chức ngày Thương binh toàn quốc, tháng 7 năm 1947, Người viết: “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, ruộng nương, nhà cửa ta bị nguy ngập, ai là người xung phong trước tiên để chống lại quân thù, giữ gìn đất nước chúng ta? Đó là những chiến sỹ mà nay có một số thành ra thương binh. Thương binh là những người chiến sỹ đã hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của đồng bào mà các đồng chí chịu ốm yếu…[30, tr.
Có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những khía cạnh cụ thể của khái niệm thương binh. Theo ý Người, thương binh là những người chiến sỹ đã hy sinh một phần xương máu của mình trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, mà vì thế họ bị thương, để lại vết thương trên cơ thể. Trong các cuộc chiến chống kẻ thù xâm lược, tùy vào từng thời kỳ lịch sử mà khái niệm thương binh được xây dựng và sửa đổi cho phù hợp hơn. Trong các cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, tùy vào từng thời kỳ lịch sử, mà khái niệm thương binh được xây dựng và sửa đổi cho phù hợp hơn.