Chương 1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của luật này. Theo Luật đầu tư năm 2005 (khoản 12 Điều 3), “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam”. Tuy nhiên khi Luật đầu tư năm 2014 ra đời thay thế cho Luật đầu tư năm 2005 cũng không đưa ra một định nghĩa hay khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài, mà cơ bản nêu lên bản chất của đầu tư nước ngoài thông qua một số khái niệm: đầu tư kinh doanh, nhà đầu tư nước ngoài. Theo đó, “đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện các hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn; mua cổ phần; phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư.” và “ Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”.
Như vậy, mặc dù có rất nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ra khái niệm về FDI, song ta có thể đưa ra một khái niệm tổng quát nhất, đó là: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức mà nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn; mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư ở nước tiếp nhận đầu tư. Trong đó, nhà đầu tư nước ngoài có thể thiết lập quyền sở hữu từng phần hay toàn bộ vốn đầu tư và giữ quyền quản lý, điều hành trực tiếp đối tượng mà họ bỏ vốn nhằm mục đích thu được lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư đó trên cơ sở tuân theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài của nước sở tại.2 Đặc điểm Đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm cơ bản sau: - Hoạt động FDI đưa ào nước tiếp nhận đầu tư bao gồm: vốn, công nghệ, kỹ thuật, bí quyết kinh doanh, sản xuất, năng lực tiếp thị , trình độ quản lý.Hình thức đầu tư này mang tính hoàn chỉnh bởi khi vốn đưa vào đầu tư thì hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành và sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường nước chủ nhà hoặc xuất khẩu. Do vậy, đầu tư kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm là một trong những nhân tố làm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Đây là đặc điểm để phân biệt với các hình thức đầu tư khác, đặc biệt là với hình thức ODA (hình 10 thức này chỉ cung cấp vốn đầu tư cho nước sở tại mà không kèm theo kỹ thuật và công nghệ).
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một lượng vốn tối thiểu vào vốn pháp định tuỳ theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài ở từng nước, để họ có quyền trực tiếp tham gia điều hành, quản lý đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư. Chẳng hạn, ở Việt Nam theo điều 8 của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định: ”Số vốn đóng góp tối thiểu của phía nước ngoài phải bằng 30% vốn pháp định của dự án” (Trừ những trường hợp do Chính phủ quy định). - Quyền quản lý, điều hành doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phụ thuộc vào vốn góp. Tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài càng cao thì quyền quản lý, ra quyết định càng lớn.
Đặc điểm này giúp ta phân định được các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nếu nhà đầu tư nước ngoài góp 100% vốn thì doanh nghiệp đó hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành. - Quyền lợi của các nhà ĐTNN gắn chặt với dự án đầu tư: Kết quả hoạt động sản xuất kinh của doanh nghiệp quyết định mức lợi nhuận của nhà đầu tư. Sau khi trừ đi thuế lợi tức và các khoản đóng góp cho nước chủ nhà, nhà ĐTNN nhận được phần lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định.
- Chủ thể của đầu tư trực tiếp nước ngoài thường là các công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia ( chiếm 90% nguồn vốn FDI đang vận động trên thế giới ). Thông thường các chủ đầu tư này trực tiếp kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp ( vì họ có mức vốn góp cao) và đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ. - Nguồn vốn FDI được sử dụng theo mục đích của chủ thể ĐTNN trong khuôn khổ luật Đầu tư nước ngoài của nước sở tại. Nước tiếp nhận đầu tư chỉ có thể định hướng một cách gián tiếp việc sử dụng vốn đó vào những mục đích mong muốn thông qua các công cụ như: thuế, giá thuê đất, các quy định để khuyến khích hay hạn chế đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một lĩnh vực, một ngành nào đó.
- Mặc dự FDI vẫn chịu sự chi phối của Chính Phủ song có phần lớn lệ thuộc vào quan hệ chính trị giữa các bên tham gia hơn so với ODA. - Việc tiếp nhận FDI không gây nên tình trạng nợ nước ngoài cho nước chủ nhà, bởi nhà ĐTNN chịu trách nhiệm trực tiếp trước hoạt động sản xuất kinh doanh của họ. Trong khi đó, hoạt động ODA và ODF ( Official Development Foreign) thường dẫn đến tình trạng nợ nước ngoài do hiệu quả sử dụng vốn thấp. Vai trò của đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam Thứ nhất, đầu tư nước ngoài đã tạo ra một phương thức thu hút đầu tư mới, tác động lan tỏa góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, “khơi dậy” và nâng cao hiệu quả 11 sử dụng các nguồn lực trong nước.
Số liệu thống kê cho thấy, FDI đã đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển, chiếm 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; tỷ trọng đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoài trong GDP chiếm khoảng 20%. Thứ hai, khu vực FDI đã góp phần quan trọng vào đẩy mạnh xuất khẩu, chiếm đến 70% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Với sự xuất hiện của các đại gia công nghệ như Samsung, LG, Microsoft, Bosh, … kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã tăng nhanh trong vòng 3-5 năm qua. Con số được Tổng cục Hải quan công bố, tính đến giữa tháng 12/2017, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã chạm ngưỡng 400 tỷ USD, trong đó, xuất khẩu là gần 204 tỷ USD.
Chỉ riêng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng điện thoại, máy tính, điện tử và linh kiện các loại đạt kỷ lục với 71,6 tỷ USD. Thứ ba, mặc dù vẫn được ưu tiên trong tiếp cận đất đai, tiền thuê đất, miễn giảm thuế, song khu vực này đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách với giá trị nộp ngân sách tăng từ 1,8 tỷ USD (giai đoạn 1994 - 2000) lên 14,2 tỷ USD (giai đoạn 2001 - 2010). Giai đoạn 2011 - 2015, thu ngân sách từ khu vực FDI đạt 23,7 tỷ USD, chiếm gần 14% tổng thu ngân sách; năm 2017, khu vực FDI đã đóng góp vào thu ngân sách gần 8 tỷ USD, chiếm 14,46% tổng thu ngân sách nhà nước. Thứ tư, FDI đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực.
58,2% vốn đăng ký vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, tạo ra trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế. Những địa phương đứng đầu trong thu hút FDI đã thể hiện rõ rệt tác động của khu vực FDI đến cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp địa phương. Điển hình là tỉnh Bắc Ninh, nhờ thu hút có hiệu quả FDI mà chỉ trong vòng 5 năm gần đây đã biến đổi căn bản, từ tỉnh nông nghiệp vươn lên trở thành tỉnh công nghiệp, hiện nay nông nghiệp chỉ chiếm 8%, công nghiệp và dịch vụ chiến 82% cơ cấu kinh tế. Hay như tỉnh Bình Dương ở phía Nam, sau hơn 30 năm thu hút FDI, hiện nay, giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh năm 2016 đạt 530,412 tỷ đồng (năm 2017 tăng 10,98% so với 2016), tăng gấp 2,3 lần so với năm 2011.
Thứ năm, đầu tư nước ngoài đã đóng góp quan trọng trong việc giải quyết lao động và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, một nhân tố cơ bản cho hội nhập và phát triển. Thứ sáu, khu vực FDI đã trực tiếp và gián tiếp đóng góp chuyển giao và phát triển công nghệ, tham gia và thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa tại Việt Nam. 12 Thứ bảy, đầu tư nước ngoài đã thúc đẩy không chỉ tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng, mà còn trở thành nhân tố đẩy nhanh công cuộc phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội, hoàn thiện hệ thống chính sách, văn bản pháp luật. Khái niệm, bản chất, vai trò của ưu đãi đầu tư 1.
Khái niệm ưu đãi đầu tư Ưu đãi có thể là công cụ để các quốc gia theo đuổi chiến lược phát triển. Nếu được sử dụng đúng cách, nó có thể bù đắp cho một số thiếu sót trong môi trường kinh doanh không thể khắc phục dễ dàng. Chính sách ưu đãi FDI thu hút các nhà đầu tư vận động quốc tế đôi khi chính thức thúc đẩy các nỗ lực nhằm mục đích cải thiện môi trường thuận lợi của các nước tiếp nhận. Ví dụ, một số quốc gia đã sử dụng thuế suất đặc biệt thấp để thu hút sự hiện diện của doanh nghiệp nước ngoài, cũng như làm cho các doanh nghiệp trong nước ở lại.
Một loạt các chiến lược khác bao gồm các chế độ ưu đãi thuế quan, cắt bỏ thủ tục hành chính, tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng và các biện pháp giáo dục, đào tạo. Nhiều nước sau này nhắm đến các ngành kinh tế ưu tiên (ví dụ: các chiến lược công nghệ cao của Đông Nam Á, “chế độ tự động” của Mỹ Latinh) và các vùng khác (đặc biệt liên quan đến “các khu kinh tế đặc biệt”, “khu chế xuất” ”, v.) Theo từ điển tiếng Việt thì ưu đãi “là việc dành cho những điều kiện, quyền lợi đặc biệt hơn so với người khác”.