chương 1 giới thiệu cơ sở hình thành đề tài, xác định vấn đề, mục tiêu, câu hỏi, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết nghiên cứu. Nội dung chương 2 tìm hiểu khái niệm nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế. Sau đó, luận văn trình bày cơ sở lý thuyết, cũng như các nghiên cứu thực nghiệm về sự tác động của nợ nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế.
Nội dung chương này làm cơ sở để thực hiện mô hình ở chương 3. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Nội dung chương 3 tập trung vào ba phần, phần thứ nhất trình bày về chuỗi dữ liệu thời gian, đặc điểm tính mùa của chuỗi dữ liệu thời gian và phương pháp điều chỉnh yếu tố mùa. Thứ hai, kiểm định đồng liên kết theo Johansen - Juselius và phương pháp hiệu chỉnh sai số ECM (Error Correction Models).
Cuối cùng là đề xuất mô hình nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Nội dung chương 4, phần đầu trình bày thống kê mô tả các biến trong mô hình, xem xét tính mùa và kiểm định nghiệm đơn vị. Sau đó, là ước lượng ngưỡng tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP và cuối cùng là sử dụng mô hình Johansen - Juselius để ước lượng tác động của nợ nước ngoài và ngưỡng nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Nội dung chương 5, luận văn sẽ trình bày kết luận rút ra từ kết quả phân tích hồi quy mô hình nghiên cứu từ chương 4. Từ kết quả đó đưa ra những đóng góp, hạn chế, kiến nghị và đề nghị hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU Chương này tìm hiểu khái niệm nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế.
Sau đó, luận văn trình bày cơ sở lý thuyết, cũng như các nghiên cứu thực nghiệm về sự tác động của nợ nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế. Nội dung chương này làm cơ sở để thực hiện mô hình ở chương 3.1 Khái niệm nợ nước ngoài Theo khoản 8 điều 2 Quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài (ban hành kèm theo nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ), nợ nước ngoài được định nghĩa như sau: Nợ nước ngoài của quốc gia là số dư của mọi nghĩa vụ nợ hiện hành (không bao gồm nghĩa vụ nợ dự phòng) về trả gốc và lãi tại một thời điểm của các khoản vay nước ngoài của Việt Nam. Nghĩa vụ nợ dự phòng là các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn, hiện tại chưa phát sinh nhưng có thể phát sinh khi xảy ra một trong các điều kiện đã được xác định trước (ví dụ: khi người được bảo lãnh không trả được một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ nợ, bị phá sản. Nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm nợ nước ngoài của khu vực công và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân.
Nợ nước ngoài của khu vực công bao gồm nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ nước ngoài (nếu có) của chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nợ nước ngoài của các doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức tài chính, tín dụng nhà nước và các tổ chức kinh tế nhà nước (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp nhà nước) trực tiếp vay nước ngoài. Nợ nước ngoài của Chính phủ là số dư mọi nghĩa vụ nợ hiện hành (không bao gồm nghĩa vụ nợ dự phòng) về trả gốc và lãi tại một thời điểm của các khoản vay nước ngoài của Chính phủ. Nợ nước ngoài của khu vực tư nhân là nợ nước ngoài của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế thuộc khu vực tư nhân (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp tư nhân). Như vậy, theo cách hiểu này thì nợ nước ngoài là tất cả những khoản vay mượn của tất cả các pháp nhân Việt Nam (bao gồm cả chính phủ, doanh nghiệp nhà nước LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- và doanh nghiệp tư nhân) nhưng không bao gồm nợ của thể nhân (tức là nợ của cá nhân và hộ gia đình).
Theo IMF(2003) định nghĩa: "tổng nợ nước ngoài, tại bất kỳ thời điểm nào là tổng dư nợ của các nghĩa vụ nợ thực tế hiện thời chưa thanh toán, không bao gồm các nghĩa vụ nợ dự phòng, đòi hỏi bên nợ phải thanh toán nợ gốc và/hoặc lãi tại một (hoặc một vài) thời điểm trong tương lai, và đây là khoản nợ của người cư trú nợ người không cư trú". Về thời hạn vay nợ nước ngoài, tại điều 2 nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về quy chế vay và trả nợ nước ngoài đề cập, thời hạn vay nước ngoài của Việt Nam bao gồm các khoản vay ngắn hạn (có thời hạn vay đến một năm), trung và dài hạn (có thời hạn vay trên một năm), có hoặc không phải trả lãi, do Nhà nước, Chính phủ Việt Nam và các tổ chức là người cư trú ở Việt Nam (người vay) vay của các tổ chức tài chính quốc tế, Chính phủ các nước, các tổ chức và cá nhân là người không cư trú (người cho vay nước ngoài). Trong khi đó, nợ nước ngoài của các tổ chức thống kê nợ quốc tế chỉ có nợ ngắn hạn và dài hạn (IMF, 2003). Tuy nhiên, hiện nay các thể nhân Việt Nam (cá nhân và hộ gia đình) vẫn chưa được phép vay nước ngoài, cho nên khái niệm nợ nước ngoài của IMF và của Việt Nam tương đồng, do đó khái niệm nợ nước ngoài không ảnh hưởng đến việc đánh giá tình trạng vay nợ nước ngoài của Việt Nam.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 10 - Tổng nợ Nợ nước ngoài Nợ trong nước Tổng nợ công Nợ công nước ngoài Nợ tư nước ngoài Nợ công trong nước Nợ tư trong nước Nợ chính phủ Nợ được CP bảo lãnh Hình 2.1: Cấu trúc nợ của Việt Nam Nguồn: (World Bank, 2006) 2.2 Tăng trưởng kinh tế 2.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Sự gia tăng được thể hiện ở quy mô và tốc độ. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ. Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị.
Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu GDP, GNI và được tính cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người. Bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế, là tỷ lệ tăng sản lượng thực tế, là kết quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ của một nền kinh tế tạo ra. Sự tăng trưởng kinh tế được so sánh với các năm gốc kế tiếp nhau được gọi là tốc độ tăng trưởng kinh tế (Phan Thúc Huân, 2006, trang 12). Tăng trưởng kinh tế được biểu hiện bằng hai cách: Cách thứ nhất là sự tăng lên của: Tổng sản phẩm quốc dân (GNI); Sản phẩm quốc dân ròng (NNP); Tổng sản phẩm quốc nội (GDP); Thu nhập quốc dân khả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Cách thứ nhất này đơn thuần chỉ thể hiện việc mở rộng sản lượng quốc gia của một quốc gia. Cách thứ hai là sự tăng lên theo đầu người của các chỉ tiêu trên – cụ thể là: Tổng sản phẩm quốc dân trên đầu người (GNI/đầu người); Sản phẩm quốc dân ròng trên đầu người (NNP/đầu người); Tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người (GDP/đầu người); Thu nhập quốc dân khả dụng trên đầu người (NDI/đầu người). Cách thứ hai này thể hiện sự tăng trưởng mức sống của một quốc gia. Bằng các chỉ tiêu này có thể so sánh mức sống giữa các quốc gia khác nhau.2 Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế Phan Thúc Huân (2006, trang 14), sự tăng trưởng của nền kinh tế được biểu hiện bằng sự tăng thêm sản lượng hàng năm do nền kinh tế tạo ra.
Thước đo của sự tăng trưởng kinh tế thường thể hiện bằng một số chỉ tiêu chủ yếu như sau: Một là, tổng thu nhập quốc dân (GNI) Hiện nay Ngân hàng Thế giới sử dụng tổng thu nhập quốc dân GNI. Tổng thu nhập quốc dân (GNI – trước đây là tổng sản phẩm quốc dân hay GNP) là thước đo tổng hợp lớn nhất của thu nhập quốc dân, đo lường toàn bộ tổng giá trị gia tăng từ các nguồn trong nước và nước ngoài do những người cư trú của nước đó tạo ra. GNI bao gồm tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cộng với các khoản thu ròng từ thu nhập ban đầu trong các nguồn phi cư trú. Phương pháp Atlas Ngân Hàng Thế Giới: Tính toán GNI và GNI trên đầu người theo đồng đôla Mỹ cho các mục đích nghiệp vụ nhất định.
Ngân hàng Thế giới sử dụng một hệ số chuyển đổi Atlas. Mục đích của hệ số chuyển đổi Atlas là làm giảm ảnh hưởng của sự biến động tỷ giá hối đoái khi so sánh thu nhập quốc dân giữa các nước. Hệ số chuyển đổi Atlas cho một năm bất kỳ là mức trung bình của tỷ giá hối đoái của một nước (hay hệ số chuyển đổi khác) trong năm đó và tỷ giá hối đoái của nước đó trong hai năm trước đó, hệ số này được điều chỉnh theo sự chênh lệch về tỷ lệ lạm phát trong nước với các nước trong 5 nhóm nước (G-5) (Pháp, Đức, Nhật Bản, Anh và Mỹ). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 12 - Công thức cách tính hệ số chuyển đổi Atlas cho năm t: *1 pt pts $ pt p s$ e [et 2( t ) et 1 ( ) et 3 pt 2 ptss2 pt 1 ptss1 Và cách tính GNI trên đầu người theo USD cho năm t: yt yt$ ( )et Nt Trong đó: e*: Là hệ số chuyển đổi Atlas (đồng bản tệ trên USD) cho năm t.
et: Là tỷ giá hối đoái trung bình (đồng bản tệ trên USD) cho năm t. p: Là hệ số giảm phát cho năm t. ps$: Là hệ số giảm phát SDR tính theo USD cho năm t. pt$ : Là GNI Atlas trên đầu người tính theo USD cho năm t.
Yt: Là GNI hiện hành (tính theo đồng bản tệ). Nt: là dân số giữa năm t. Hai là, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Theo David Begg, Stanley Fischer, Rudiger Dornbusch, tổng sản phẩm quốc nội đo lường sản lượng được sản xuất ra bởi các yếu tố sản xuất nằm trong nền kinh tế quốc nội bất kể ai là chủ sở hữu các yếu tố đó.