Tổng quan nghiên cứu

Thị trường cao su thiên nhiên trong giai đoạn 2012 đến 2017 chứng kiến những đợt suy giảm giá sâu và kéo dài trên phạm vi toàn cầu, tác động trực tiếp đến sinh kế của hàng vạn hộ nông dân. Tại huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, giá thu mua mủ cao su dạng nước đã giảm mạnh từ mức 13.280 đồng/kg xuống 11.680 đồng/kg và có thời điểm xuống dưới 10.000 đồng/kg, khiến giá mủ quy khô chỉ còn khoảng 27.000 đồng/kg. Tình trạng giá bán giảm sâu trong khi chi phí phân bón và tiền thuê công cạo mủ ngày càng tăng đã đẩy người nông dân vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, dẫn đến hiện tượng chặt bỏ vườn cây cao su hoặc suy giảm mức độ đầu tư chăm sóc.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ cơ chế thích ứng và các hình thái ứng xử kinh tế của hộ nông dân trồng cao su tiểu điền khi đối mặt với cú sốc giảm giá nông sản. Luận văn hướng tới bốn mục tiêu cụ thể: hệ thống hóa cơ sở lý luận về hộ nông dân và hành vi ứng xử kinh tế trước biến động thị trường; đánh giá thực trạng sản xuất và hành vi ứng xử của 90 nông hộ tại ba xã trọng điểm; phân tích các yếu tố quyết định đến sự thay đổi trong quyết định sản xuất; và đề xuất hệ thống giải pháp khả thi giúp người trồng cao su ổn định sinh kế.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn về không gian tại huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa và thời gian thu thập dữ liệu thứ cấp lẫn sơ cấp từ năm 2012 đến năm 2017. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng khi đóng góp các luận cứ khoa học phục vụ công tác tái cơ cấu 6.386 ha đất sản xuất nông nghiệp toàn huyện, hỗ trợ chính quyền địa phương định hướng phát triển vùng cây công nghiệp dài ngày và hạn chế tình trạng chuyển đổi cây trồng tự phát thiếu quy hoạch.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế hộ nông dân của Alexander Chayanov và Frank Ellis. Theo các học giả này, hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở vừa thực hiện chức năng sản xuất vừa đảm nhận chức năng tiêu dùng, sử dụng chủ yếu lao động gia đình và luôn tìm cách tối ưu hóa các nguồn lực sẵn có trong điều kiện chịu sự chi phối của các yếu tố thị trường bên ngoài.

Bên cạnh đó, lý thuyết hành vi ứng xử kinh tế học chỉ rõ rằng phản ứng của chủ hộ trước các kích thích từ môi trường kinh doanh luôn có sự tính toán duy lý nhằm thích nghi với hoàn cảnh rủi ro và tối đa hóa lợi ích gia đình. Khi giá bán nông sản biến động, nông hộ sẽ điều chỉnh hành vi liên quan đến quy mô diện tích, mức độ thâm canh, cơ cấu cây trồng xen canh và chiến lược tiếp cận thị trường tiêu thụ. Luận văn cũng vận dụng lý thuyết cung - cầu và tính chất chu kỳ của thị trường nông sản để lý giải sự co giãn kém của nguồn cung cao su trong ngắn hạn.

Nghiên cứu làm rõ các khái niệm then chốt: cao su tiểu điền là hình thức canh tác vườn cây thuộc quyền sở hữu của nông hộ với quy mô dưới 4 ha/hộ, phân bố phân tán và chủ yếu dựa vào vốn tự có kết hợp vốn vay; ứng xử của hộ nông dân là tổng hòa các thái độ, quyết định và hành động thực tế nhằm lựa chọn phương án sản xuất tối ưu; biến động giá cả là sự thay đổi mức giá theo chu kỳ và xu hướng; cùng hai giai đoạn phát triển đặc thù của cây cao su gồm thời kỳ kiến thiết cơ bản kéo dài từ 7 đến 8 năm và thời kỳ kinh doanh khai thác mủ kéo dài từ 25 đến 30 năm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp linh hoạt giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp trong suốt tiến trình nghiên cứu từ năm 2012 đến năm 2017. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các niên giám thống kê của huyện Thọ Xuân, báo cáo ngành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các công trình khoa học chuyên ngành. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát trực tiếp 90 hộ nông dân trồng cao su tại 3 xã đại diện: Thọ Lâm (vùng có diện tích cao su lớn nhất và lâu năm nhất), Xuân Phú (vùng có diện tích cao su ít nhất) và Xuân Thắng (vùng ghi nhận tỷ lệ chặt bỏ cao su nhiều nhất).

Mẫu nghiên cứu gồm 90 hộ được lựa chọn theo phương pháp phân tầng ngẫu nhiên dựa trên quy mô diện tích: nhóm quy mô lớn trên 3 ha gồm 25 hộ, nhóm quy mô trung bình từ 1 đến 3 ha gồm 45 hộ và nhóm quy mô nhỏ dưới 1 ha gồm 20 hộ. Luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả để lượng hóa các chỉ tiêu chi phí và doanh thu; phương pháp so sánh đối chiếu số liệu qua các năm để thấy rõ sự biến chuyển trong quyết định của nông hộ; phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân nhằm nhận diện những trở ngại lớn nhất; cùng phương pháp chuyên gia chuyên khảo để tham vấn định hướng giải pháp kỹ thuật. Việc phối hợp các phương pháp này bảo đảm phản ánh khách quan, toàn diện và chuẩn xác hành vi thích ứng của nông hộ trước biến động thị trường.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực tế tại huyện Thọ Xuân chỉ ra bốn phát hiện kinh tế quan trọng:

Thứ nhất, sự sụt giảm nghiêm trọng của giá mủ cao su đã làm đảo lộn hiệu quả kinh tế của các nông hộ. Giá mủ nước giảm sâu từ 13.280 đồng/kg xuống dưới 10.000 đồng/kg, khiến giá mủ quy khô tại địa phương chỉ đạt khoảng 27.000 đồng/kg. Với mức giá này, doanh thu thu được từ vườn cây không đủ bù đắp chi phí thuê mướn lao động cạo mủ và vật tư đầu vào, đẩy phần lớn các hộ vào trạng thái thua lỗ hoặc hòa vốn.

Thứ hai, diện tích và mật độ vườn cây cao su bị suy giảm nghiêm trọng do hành vi phá bỏ tự phát. Quy chuẩn kỹ thuật đòi hỏi mật độ cây đạt khoảng 550 cây/ha, tuy nhiên khảo sát tại địa bàn cho thấy mật độ bình quân tại nhiều vườn chỉ còn từ 200 đến 300 cây/ha, thậm chí một số diện tích chỉ còn xấp xỉ 100 cây/ha. Nhiều hộ đã chủ động chặt bỏ một phần hoặc toàn bộ vườn cao su để bán gỗ lấy tiền trang trải nợ nần hoặc chuyển đổi đất sang trồng mía, sắn, dứa và nghệ.

Thứ ba, nông hộ đã thực hiện cắt giảm chi phí đầu tư và thay đổi kỹ thuật canh tác để ứng phó. Trong giai đoạn giá thấp, nông dân giảm mạnh khối lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. Các hộ chuyển từ phương pháp rải phân trên mặt đất vốn chỉ giúp cây hấp thụ từ 30% đến 40% sang phương pháp đào hố chôn lấp nhằm tiết kiệm phân bón. Đồng thời, các hộ chuyển đổi chế độ cạo mủ từ cạo dày sang chu kỳ cạo D3 hoặc D4, giúp giảm 25% công lao động khai thác trên một đơn vị diện tích và bảo vệ tầng vỏ nguyên sinh của thân cây.

Thứ tư, nghiên cứu xác định có 7 nhóm yếu tố chi phối trực tiếp đến hành vi ứng xử của hộ, bao gồm: điều kiện sản xuất của vùng, trình độ học vấn của chủ hộ, quy mô đất đai và nguồn vốn, khả năng tiếp cận thông tin thị trường, mô hình tổ chức sản xuất, hệ thống chính sách hỗ trợ và hiệu quả kinh tế so sánh giữa các loại cây trồng thay thế.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của tình trạng khủng hoảng cao su tiểu điền tại Thọ Xuân bắt nguồn từ đặc tính kinh tế kỹ thuật của cây cao su: thời kỳ kiến thiết cơ bản kéo dài tới 7 năm đòi hỏi nguồn vốn đầu tư ban đầu rất lớn nhưng thời gian thu hồi vốn lại chậm. Cung của ngành cao su có độ co giãn rất thấp theo giá trong ngắn hạn. Khi giá dầu thô trên thị trường quốc tế biến động giảm mạnh làm giảm giá thành cao su nhân tạo, nhu cầu cao su thiên nhiên lập tức sụt giảm theo chuỗi giá trị toàn cầu.

Phát hiện tại Thọ Xuân hoàn toàn tương đồng với thực trạng diễn ra tại các vùng trọng điểm cao su của cả nước trong cùng thời kỳ. Điển hình như tại tỉnh Bình Phước ghi nhận hơn 1.800 ha cao su bị chặt bỏ, tỉnh Bình Dương có gần 2.400 ha bị thanh lý và tại huyện Đắk Mil thuộc tỉnh Đắk Nông có trên 65 ha cao su bị đốn hạ hoặc tỉa cành để làm trụ sống trồng hồ tiêu. Vòng luẩn quẩn trồng - chặt, chặt - trồng tiếp tục lặp lại do nông dân thiếu thông tin thị trường dài hạn và phát triển vườn cây tự phát trên các diện tích đất dốc không phù hợp.

Các số liệu phân tích trong luận văn được minh họa rõ nét thông qua hệ thống bảng biểu tính toán chi phí đầu tư 1 ha thời kỳ kiến thiết cơ bản, bảng chi phí thời kỳ kinh doanh qua các năm và biểu đồ thể hiện chuỗi biến động giá mủ giai đoạn 2012 - 2016. Các bảng thống kê phân tầng còn phản ánh sự khác biệt rõ rệt về hành vi ứng xử giữa nhóm hộ quy mô lớn trên 3 ha với nhóm hộ nhỏ dưới 1 ha, chứng minh rằng tiềm lực tài chính và quy mô đất đai là yếu tố quyết định khả năng duy trì vườn cây qua giai đoạn khủng hoảng giá.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, luận văn đưa ra bốn nhóm giải pháp đồng bộ:

Thứ nhất, rà soát và điều chỉnh quy hoạch diện tích cao su tiểu điền. Ủy ban nhân dân huyện Thọ Xuân cùng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần tiến hành kiểm kê toàn bộ diện tích cao su trên địa bàn trong giai đoạn 2018 - 2020. Chính quyền cần kiên quyết chuyển đổi các diện tích đất đồi có độ dốc cao, năng suất mủ dưới 1 tấn/ha sang các loại cây trồng hàng năm có giá trị kinh tế cao hơn như cây ăn quả hoặc cây nguyên liệu mía đường, đồng thời duy trì mật độ tối thiểu 500 cây/ha đối với các vùng quy hoạch cao su chuyên canh tập trung.

Thứ hai, chuyển giao gói kỹ thuật thâm canh tiết kiệm chi phí. Trạm Khuyến nông huyện cần tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật cho 100% hộ trồng cao su trong giai đoạn 2018 - 2019, hướng dẫn chuyển đổi toàn diện sang quy trình cạo mủ D3 và D4 nhằm cắt giảm 25% chi phí nhân công cạo mủ. Đồng thời, khuyến cáo nông dân thực hiện triệt để biện pháp đào hố chôn lấp phân bón nhằm nâng hiệu suất hấp thụ dinh dưỡng lên trên 70%, kết hợp kỹ thuật trồng xen canh các loại cây ngắn ngày như nghệ, dứa, đậu đỗ trong 4 năm đầu của thời kỳ kiến thiết cơ bản để tạo nguồn thu ngắn ngày bù đắp chi phí dài hạn.

Thứ ba, xây dựng chuỗi liên kết bao tiêu sản phẩm và hỗ trợ vốn. Các công ty chế biến cao su trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa cần phối hợp với chính quyền xã thiết lập hợp đồng liên kết thu mua trực tiếp, bảo đảm thu mua tối thiểu 80% sản lượng mủ của nông hộ với mức giá sàn bảo hiểm trong giai đoạn 2019 - 2022. Song song đó, Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Ngân hàng Chính sách xã hội cần thực hiện chính sách khoanh nợ, giãn tiến độ trả nợ gốc và giảm lãi suất vay từ 1% đến 2%/năm đối với các khoản vay đầu tư cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản.

Thứ tư, hoàn thiện hệ thống thông tin dự báo thị trường nông sản. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa cùng Trung tâm Tin học và Thống kê cần cung cấp các bản tin dự báo giá mủ cao su và giá dầu thô định kỳ hàng tháng trên các phương tiện truyền thông địa phương, giúp các hộ nông dân nắm bắt kịp thời các tín hiệu cung - cầu thị trường và đưa ra các quyết định khai thác mủ hợp lý, tránh tâm lý hoang mang phá bỏ vườn cây khi thị trường ở đáy chu kỳ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị cao cho bốn nhóm đối tượng:

Thứ nhất, cán bộ quản lý và chuyên viên hoạch định chính sách tại các cơ quan quản lý nông nghiệp cấp tỉnh, huyện và xã. Dữ liệu thực tế từ 90 nông hộ tại Thọ Xuân cung cấp cơ sở thực tiễn vững chắc để xây dựng các chính sách điều chỉnh quy hoạch cây công nghiệp dài ngày, chính sách bảo hiểm nông nghiệp và chương trình trợ giá vật tư đầu vào cho người dân.

Thứ tư, các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế và Phát triển nông thôn. Công trình mang lại một khung phân tích hoàn chỉnh về hành vi kinh tế hộ dựa trên lý thuyết của Alexander Chayanov và Frank Ellis, đồng thời là một case study điển hình về quản trị rủi ro giá trong sản xuất nông nghiệp hàng hóa.

Thứ ba, lãnh đạo các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu cao su và các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp. Các phát hiện về kênh phân phối và tập quán bán mủ đông của nông dân giúp doanh nghiệp thiết kế lại mạng lưới thu mua, cắt giảm chi phí trung gian và xây dựng mô hình liên kết sản xuất gắn với vùng nguyên liệu tiểu điền bền vững.

Thứ tư, các chủ trang trại và hộ gia đình đang canh tác cao su tiểu điền hoặc các loại cây công nghiệp dài ngày khác. Tài liệu cung cấp những chỉ dẫn kỹ thuật thực tế về việc chuyển đổi chu kỳ cạo D3/D4, kỹ thuật bón phân theo hố và chiến lược xen canh cây ngắn ngày nhằm duy trì dòng tiền ổn định khi thị trường nông sản rơi vào giai đoạn suy thoái giá.

Câu hỏi thường gặp

Biến động giá mủ cao su tại huyện Thọ Xuân trong giai đoạn nghiên cứu diễn ra theo chiều hướng nào? Trong giai đoạn 2012 đến 2017, giá mủ cao su giảm mạnh theo xu hướng chung của thị trường thế giới. Giá mủ nước thu mua tại vườn giảm từ 13.280 đồng/kg xuống 11.680 đồng/kg và chạm đáy dưới mức 10.000 đồng/kg, tương ứng mức giá mủ quy khô tại khu vực Thanh Hóa chỉ còn khoảng 27.000 đồng/kg, khiến phần lớn nông hộ không bù đắp nổi chi phí vận hành.

Vì sao nông hộ trồng cao su tại Thọ Xuân chuyển dịch sang chế độ cạo mủ D3 hoặc D4? Việc áp dụng chế độ cạo giãn cách D3 (3 ngày cạo 1 lần) hoặc D4 (4 ngày cạo 1 lần) thay cho chế độ cạo dày D2 giúp nông hộ tiết kiệm khoảng 25% chi phí công lao động khai thác. Đồng thời, biện pháp kỹ thuật này giúp cây cao su ổn định sinh lý, hạn chế tổn hại tầng vỏ nguyên sinh và duy trì khả năng tái tạo mủ bền vững khi giá bán ở mức thấp.

Nông dân có thể trồng xen những loại cây nào trong vườn cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản? Trong khoảng thời gian từ 1 đến 4 năm đầu khi tán cây cao su chưa khép kín, nông dân tại địa bàn đã xen canh hiệu quả các loại cây ngắn ngày như mía, sắn, dứa, nghệ và các loại đậu đỗ. Việc xen canh này tận dụng tối đa diện tích đất, cải tạo độ ẩm đất đai và mang lại nguồn thu nhập thường xuyên để trang trải chi phí chăm sóc vườn cây.

Yếu tố nào có ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định chặt bỏ hay giữ lại vườn cao su của hộ nông dân? Quyết định của chủ hộ chịu sự chi phối quyết định bởi quy mô diện tích đất đai và tiềm lực tài chính gia đình. Các hộ có diện tích nhỏ dưới 1 ha và phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn vốn vay thường có xu hướng chặt bỏ cao su để trồng cây ngắn ngày nhanh thu hồi vốn. Ngược lại, các hộ có quy mô trên 3 ha thường kiên trì giữ vườn và áp dụng các biện pháp chăm sóc tối thiểu để chờ giá phục hồi.

Hạn chế lớn nhất trong khâu tiêu thụ mủ cao su tiểu điền tại địa phương là gì? Hạn chế lớn nhất là sản lượng khai thác hàng ngày của từng hộ còn nhỏ lẻ và hệ thống giao thông nội đồng chưa thuận lợi để xe chuyên dụng của nhà máy vào tận lô thu mua mủ nước. Do đó, người dân buộc phải chế biến thành mủ đông và phụ thuộc hoàn toàn vào mạng lưới thương lái trung gian nhỏ lẻ tại địa phương, dẫn đến tình trạng bị ép giá và giảm chất lượng mủ.

Kết luận

Luận văn đã làm sáng tỏ bức tranh toàn diện về thực trạng sản xuất và cơ chế phản ứng kinh tế của 90 hộ nông dân trồng cao su tiểu điền tại huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa trước cú sốc giảm giá giai đoạn 2012 - 2017:

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh khung lý thuyết kinh tế hộ và lý thuyết hành vi ứng xử nông hộ trước rủi ro biến động giá nông sản trên thị trường quốc tế.
  • Lượng hóa chi tiết tác động của việc giảm giá mủ nước xuống dưới 10.000 đồng/kg đến sự suy giảm mật độ vườn cây từ 550 cây/ha xuống còn 200 - 300 cây/ha.
  • Khẳng định giá trị thực tiễn của các giải pháp thích ứng kỹ thuật như áp dụng chu kỳ cạo D3/D4 giúp giảm 25% công lao động và chuyển sang bón phân đào hố giúp tăng tỷ lệ hấp thụ lên trên 70%.
  • Xác định 7 nhóm yếu tố chi phối hành vi nông hộ, làm căn cứ vững chắc cho việc điều chỉnh quy hoạch nông nghiệp và chính sách tín dụng giai đoạn 2018 - 2025.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp liên kết chuỗi giá trị đồng bộ giữa chính quyền, doanh nghiệp chế biến và nông hộ nhằm phát triển bền vững ngành cao su.

Công trình là tài liệu khoa học giá trị và kịp thời. Các cơ quan quản lý nông nghiệp, doanh nghiệp chế biến và người nông dân cần nhanh chóng phối hợp thực hiện các giải pháp kỹ thuật và liên kết thị trường để bảo vệ vùng nguyên liệu cao su tiểu điền, góp phần ổn định an sinh xã hội và phát triển kinh tế nông thôn bền vững.