Mở đầu Phần 2. Cơ Sở lý luận và thực tiễn Phần 3. Phương pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu Phần 5.
Kết luận và kiến nghị 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm cao su tiểu điền và điều kiện hình thành mô hình cao su tiểu điền * Khái niệm Cao su tiểu điền là vườn cao su thuộc quyền sở hữu của nông dân, do nông dân tự bỏ vốn ra đầu tư hoặc do các tổ chức cho nông dân vay vốn phát triển cao su nhân dân. Cao su tiểu điền có diện tích nhỏ (dưới 4 ha/hộ) và trồng không tập trung, nằm rải rác quanh khu vực cư trú của nông dân (Đinh Xuân Trường, 2000).
Hình thức phát triển cao su tiểu điền là việc gia quyền sử dụng đất cho các hộ nông dân. Các hộ nông dân bỏ vốn ra bằng vốn tự có hoặc vốn vay để đầu tư thâm canh trồng cao su trên diện tích đất của mình. * Điều kiện hình thành và phát triển mô hình cao su tiểu điền Theo Đinh Xuân Trường, 2000 cây cao su là cây công nghiệp dài ngày có thời kỳ kiến thiết cơ bản lâu dài từ 7 đến 8 năm. Do vậy, vốn đầu tư thời kỳ kiến thiết cơ bản lớn và trải dài qua nhiều năm, chù kỳ kinh doanh dài từ 25 – 30 năm.
Lao động chủ yếu là lao động gia đình, lao động thuê ngoài chiếm tỷ trọng nhỏ. Quá trình khai thác sản phẩm mủ cao su dài và phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, quy trình kỷ thuật trồng, chăm sóc, khai thác. Sản phẩm sản xuất ra đều là sản phẩm hàng hóa nên yếu tố thị trường rất quan trọng đối với sản xuất kinh doanh của hộ gia đình. Từ những đặc điểm trên để hình thành và phát triển mô hình cao su tiểu điền cần có các điều kiện như sau: - Quy mô diện tích đất tương đối lớn và ổn định lâu dài.
- Yêu cầu về vốn đầu tư trung và dài hạn lớn. - Nhà nước có các chính sách phát triển mô hình này. - Có cán bộ kỷ thuật tập huấn, chỉ đạo. - Có các Công ty, Nông trường sản xuất cao su đóng vai trò là thị trường đầu ra cho các sản phẩm.
- Các hộ nông dân có nguyện vọng và năng lực trồng cao su. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm về ứng xử Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê, 2000) giải thích ứng xử là có thái độ, hành động, lời nói thích hợp trong việc xử sự. Còn trong Từ điển Tâm lý (Nguyễn Khắc Viện, 1991), các soạn giả cho rằng: Ứng xử được hiểu là chỉ mọi phản ứng của động vật khi một yếu tố nào đó trong môi trường kích thích; các yếu tố bên ngoài và tình trạng bên trong gộp lại thành một tình huống và tiến trình ứng xử để kích thích có định hướng nhằm giúp chủ thể thích nghi với hoàn cảnh.
Khi nhấn mạnh về tính khách quan, tức là các yếu tố bên ngoài cũng như phản ứng đều là những hiện tượng có thể quan sát được, chứ không như tình ý bên trong, thì nói là ứng xử. Khi nhấn mạnh mặt định hướng, mục tiêu thì gọi là hành vi. Trong cuốn Tâm lý học ứng xử, khái niệm “ứng xử” được các tác giả Lê Thị Bừng và Hải Vang, 1997 xác định như sau: “Ứng xử là sự phản ứng của con người đối với các tác động khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định. Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng tuỳ thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả cao nhất".
Tóm lại, ứng xử là sự phản ứng của con người khi một yếu tố nào đó trong môi trường kích thích giúp chủ thể thích nghi với hoàn cảnh.3 Khái niệm về hộ Trong một số từ điển ngôn ngữ học cũng như một số từ điển chuyên ngành kinh tế, người ta định nghĩa về hộ như sau: Hộ là tất cả những người sống chung trong một ngôi nhà và nhóm người đó có chung huyết tộc và người làm công, người cùng ăn chung. Thống kê Liên Hợp Quốc cũng có khái niệm về hộ gồm những người sống chung dưới một ngôi nhà, cùng ăn chung làm chung và cùng có chung một ngân quỹ. Còn theo MaGiê (1989) – Đại học tổng hợp Colombia (Cannada) thì hộ là những nhóm người có chung một huyết tộc hoặc không cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà, cùng ăn chung một mâm cơm. Nhóm các học giả lý thuyết cho rằng hộ là một hệ thống các nguồn lực tạo thành một nhóm các chế độ kinh tế riêng nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ và phục vụ hệ thống kinh tế lớn hơn.
Nhóm “hệ thống thế giới” các đại biểu Wallerstan (1982), Wood (1981, 1982), Smith (1985), Martin và BellHel (1987) cho rằng hộ là một nhóm người có cùng chung sở hứu, chung quyền lợi trong cùng một hoàn cảnh. Hộ là 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một đơn vị kinh tế giống như các công ty, xí nghiệp khác. Còn có một số khái niệm khác về hộ như: Hộ có hoặc không có quan hệ huyết tộc, là một vấn đề xã hội, tiêu dùng và sản xuất của hộ có liên quan đến một đơn vị xã hội (trích theo Đỗ Văn Viện, 2012). Như vậy, cả cá nhân và tổ chức khi nhìn nhận về hộ và quan niệm về hộ không giống nhau.
Tuy nhiên trong đó có nét chung để phân biệt về hộ đó là: - Hộ là những người có chung hay không chung huyết tộc và có quan hệ hôn nhân. - Hộ là những đơn vị kinh tế nhỏ nằm trong nền kinh tế. Một gia đình có thể bao gồm nhiều hộ. Từ lâu nước ta có nhiều gia đình có ba, bốn thậm chí năm thế hệ cùng chung sống dưới một mái nhà nhưng cũng đã tách ra thành những hộ riêng, sống độc lập bằng sức lao động của mình, bằng đất được giao khoán, thuê mướn đấu thầu và sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất.
Hộ luôn nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn. Khái niệm hộ nông dân Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn. Các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu thực hiện qua sự hoạt động của hộ nông dân. Tchayanov cho rằng: “Hộ nông dân là một đơn vị sản xuất ổn định và ông coi hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp”.
Luận điểm của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả những nước phát triển. Đồng tình với quan điểm trên của Tchayanov, hai tác giả Matslundal và Tommy Bengtson bổ sung và nhấn mạnh thêm: “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất cơ bản”. Vì vậy, các cải cách kinh tế ở một số nước trong những thập kỷ gần đây đã thực sự coi hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự chủ và cơ bản, từ đó đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn “Hội nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với trình độ hoàn chỉnh không cao” (trích theo Frank Ellis, 1993). Ở nước ta, cũng có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân, Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”. Từ các khái niệm, đặc điểm trên cho thấy hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có hoạt động sản xuất nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia hoạt động phi nông nghiệp ở các mức độ khác nhau, hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng. Vai trò của kinh tế hộ nông dân Theo Đào Thế Tuấn (1997) thì vai trò của kinh tế hộ nông dân như sau: - Kinh tế nông hộ góp phần làm tăng nhanh sản lượng sản phẩm cho xã hội như lương thực, thực phẩm nhằm đáp ứng tiêu dùng và tạo nguồn nguyên liệu cho các ngành kinh tế quốc dân. - Góp phần sử dụng đầy đủ và có hiệu quả các yếu tố sản xuất như đất đai, tiền vốn và tư liệu sản xuất, góp phần phân công lao động xã hội.
- Tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân ở nông thôn, vì vai trò to lớn đó, Lênin viết: ý định dùng sắc lệnh, luật lệ để thiết lập chế độ canh tác tập thể, tước mất vai trò kinh tế nông hộ trong đời sống hiện thực là sự ngu xuẩn. - Là thị trường rộng lớn của các ngành kinh tế quốc dân. - Phát triển kinh tế hộ nông dân sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởngvà phát triển nông nghiệp, giải quyết các vấn đề về văn hoá xã hội trong nông thôn, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái. Khái niệm về giá cả Có nhiều rất quan niệm khác nhau về giá cả: Quan điểm của Lê Nin (Phạm Văn Dũng, 2006): Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền giá trị xã hội của một hàng hoá nhất định, của một đơn vị giá trị sử dụng nhất định.
Như vậy giá cả không biểu hiện bằng tiền những yếu tố không nhìn thấy được trong hàng hoá – giá trị, mà nó còn biểu hiện những yếu tố cảm nhận được trong khi tiêu dùng chứa đựng trong hàng hoá đó – giá trị sử dụng của hàng hoá. Quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại: Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá, đồng thời cũng biểu hiện một 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.