Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ, dẫn đến sự thu hẹp đáng kể diện tích đất nông nghiệp. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Tổng cục Thống kê, trung bình mỗi năm cả nước có khoảng 50.000 đến 60.000 ha đất nông nghiệp chuyển sang mục đích phi nông nghiệp, kéo theo khoảng 1,5 lao động trên mỗi hộ gia đình mất việc làm truyền thống. Tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, nơi có tổng diện tích tự nhiên đạt 11.473 ha với đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ 53,3% tương đương 6.115 ha vào năm 2016, quá trình đô thị hóa tạo ra sức ép chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất vô cùng to lớn.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ việc Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/500 cho siêu dự án Khu đô thị Vincity Gia Lâm vào tháng 6/2018 với quy mô diện tích lên đến 420 ha và dân số dự kiến khoảng 89.000 người. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận về sinh kế, phân tích thực trạng biến động nguồn lực và thu nhập của các hộ nông dân bị thu hồi đất tại ba xã trọng điểm gồm Kiêu Kỵ, Dương Xá và Đa Tốn trong giai đoạn 2018 - 2019, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp định hướng đến năm 2020 và tầm nhìn 2030. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm giúp chính quyền địa phương và các nhà quản lý giải quyết bài toán an sinh xã hội, giảm thiểu rủi ro kinh tế cho hàng nghìn hộ dân vùng ven đô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Khung sinh kế bền vững do Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) ban hành năm 1999 và hoàn thiện năm 2001 làm nền tảng phân tích trung tâm. Khung lý thuyết này tiếp cận vấn đề lấy con người làm trọng tâm, đánh giá khả năng sinh nhai dựa trên năm nguồn vốn cốt lõi: nguồn vốn con người, nguồn vốn tự nhiên, nguồn vốn vật chất, nguồn vốn tài chính và nguồn vốn xã hội. Bên cạnh đó, đề tài kết hợp lý luận về kinh tế nông hộ của Ellis (1988), Chambers và Conway (1992) cùng các quan điểm phát triển nông thôn của Giáo sư Đào Thế Tuấn (1997) nhằm làm rõ hành vi thích ứng của nông dân khi mất đi tư liệu sản xuất.

Các khái niệm chính được làm rõ bao gồm: đất nông nghiệp và quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2013 (Điều 10 và Điều 54), cơ chế thu hồi đất phục vụ mục đích phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, an ninh lương thực hộ gia đình, và chiến lược đa dạng hóa sinh kế phi nông nghiệp trong bối cảnh chịu tác động từ các cú sốc thể chế và thị trường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ niên giám thống kê của Chi cục Thống kê huyện Gia Lâm giai đoạn 2016 - 2018, các văn bản quy hoạch sử dụng đất và báo cáo tiến độ bồi thường của Ban Giải phóng mặt bằng huyện Gia Lâm.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu khảo sát thực địa với quy mô mẫu 120 hộ nông dân canh tác tại ba xã chịu ảnh hưởng trực tiếp gồm Kiêu Kỵ, Dương Xá và Đa Tốn. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để phân loại các nhóm hộ theo mức độ mất đất (thu hồi toàn bộ, thu hồi từ 30% đến 70%, và thu hồi dưới 30%), kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ quản lý địa phương. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm chuyên dụng thông qua phương pháp thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, số bình quân) và phương pháp thống kê so sánh (so sánh đa thời gian trước và sau thời điểm năm 2018). Việc lựa chọn phương pháp phân tích này giúp lượng hóa một cách trực quan sự biến động về nguồn lực tài chính, tài sản vật chất và cơ cấu việc làm của người dân trong suốt chu kỳ nghiên cứu từ tháng 9/2018 đến tháng 10/2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc thu hồi 420 ha đất phục vụ dự án Vincity Gia Lâm làm suy giảm nghiêm trọng nguồn vốn tự nhiên của 120 hộ khảo sát, diện tích đất canh tác bình quân của mỗi hộ giảm hơn 75% so với giai đoạn trước năm 2018, làm triệt tiêu nguồn cung nông sản tự cấp và việc làm nông nghiệp truyền thống.

Thứ hai, cơ cấu lao động bộc lộ sự đứt gãy rõ nét theo độ tuổi. Nhóm lao động trung niên từ 40 đến 60 tuổi chiếm trên 45% tổng số lao động khảo sát gặp rào cản lớn trong việc chuyển đổi ngành nghề do trình độ văn hóa hạn chế và thiếu kỹ năng kỹ thuật, dẫn đến tình trạng thất nghiệp cục bộ hoặc chỉ làm các công việc thời vụ bấp bênh. Ngược lại, chỉ có khoảng 23% lao động trẻ dưới 35 tuổi được tuyển dụng vào các doanh nghiệp và khu công nghiệp lân cận.

Thứ ba, nguồn vốn tài chính từ tiền bồi thường chưa được chuyển hóa thành sinh kế bền vững. Dữ liệu khảo sát chỉ ra rằng hơn 62% tổng số tiền đền bù được người dân sử dụng vào việc xây dựng, sửa sang nhà cửa và mua sắm thiết bị tiện nghi sinh hoạt gia đình; chỉ có khoảng 16% lượng tiền được đầu tư vào sản xuất kinh doanh dịch vụ và thương mại.

Thứ tư, cơ cấu thu nhập có sự dịch chuyển mạnh mẽ nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Tỷ trọng thu nhập từ nông nghiệp sụt giảm từ 65% giai đoạn 2016 xuống còn dưới 18% trong năm 2018 - 2019. Mặc dù thu nhập từ thương mại - dịch vụ và làm thuê phi nông nghiệp tăng lên chiếm 58% tổng thu nhập, tính ổn định của các nguồn thu này không cao do phụ thuộc vào biến động của thị trường xây dựng xung quanh khu đô thị.

Thảo luận kết quả

Thực trạng sử dụng tiền bồi thường chủ yếu cho tiêu dùng phản ánh tâm lý ngắn hạn của người nông dân khi tiếp cận lượng tiền mặt lớn đột ngột mà thiếu kiến thức quản trị tài chính. Kết quả này tương đồng với các bài học kinh nghiệm tại thành phố Đà Nẵng trong đề án giải quyết việc làm cho 2.220 lao động vùng giải tỏa Hòa Xuân, cũng như chính sách giao đất dịch vụ cho hộ mất trên 40% đất nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc theo Quyết định 2502/2004/QĐ-UB.

Dữ liệu nghiên cứu cho thấy nếu mô hình hóa qua bảng cân đối thu chi và biểu đồ phân bổ nguồn lực, các hộ thuần nông chuyển sang nhóm hộ dịch vụ có mức sống tăng trưởng nhanh hơn nhưng đối mặt với chỉ số tổn thương cao hơn khi giá cả sinh hoạt đô thị leo thang. Điều này khẳng định rằng việc chỉ đền bù bằng tiền mặt mà không đi kèm chiến lược đào tạo nghề dài hạn sẽ đẩy một bộ phận nông dân đối mặt với nguy cơ tái nghèo sau khi tiêu hết tiền bồi thường.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm kiến tạo sinh kế bền vững cho các hộ nông dân bị thu hồi đất tại huyện Gia Lâm tầm nhìn đến năm 2030, luận văn đưa ra bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng nguồn vốn nhân lực thông qua đào tạo nghề chuyên sâu. Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức các khóa học nghề linh hoạt phù hợp với từng nhóm tuổi. Mục tiêu đặt ra là đào tạo từ 1.000 đến 1.200 lao động mỗi năm, phấn đấu đến năm 2025 đạt 85% lao động trong độ tuổi có chứng chỉ nghề và việc làm ổn định.

Thứ hai, phát triển nguồn vốn tài chính và tạo việc làm tại chỗ. Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Gia Lâm cần nâng hạn mức vay vốn ưu đãi tạo việc làm lên mức 70 đến 100 triệu đồng trên mỗi hộ gia đình, đảm bảo quy mô giải ngân đạt trên 25 tỷ đồng trong giai đoạn 2021 - 2024 để hỗ trợ người dân chuyển sang kinh doanh thương mại và dịch vụ.

Thứ ba, quy hoạch khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống. Chính quyền xã Kiêu Kỵ và các vùng lân cận cần quy hoạch không gian mở rộng làng nghề dát vàng bạc quỳ và may da Kiêu Kỵ, tạo thêm 300 đến 500 vị trí việc làm ổn định cho nhóm lao động trung niên từ 40 đến 55 tuổi trong giai đoạn 2020 - 2025.

Thứ tư, tăng cường trách nhiệm xã hội và liên kết ba bên giữa Nhà nước, Doanh nghiệp và Người dân. Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm cần ký kết thỏa thuận với chủ đầu tư dự án khu đô thị Vincity, cam kết dành tối thiểu 30% chỉ tiêu tuyển dụng các vị trí kỹ thuật tòa nhà, dịch vụ vệ sinh, an ninh và chăm sóc cây xanh đô thị cho con em các hộ gia đình bị mất đất canh tác.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho bốn nhóm đối tượng:

Thứ nhất, các giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển, Phát triển nông thôn và Quản lý đất đai cần tài liệu tham khảo thực chứng với bộ số liệu khảo sát 120 hộ dân tiêu biểu.

Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách, cán bộ lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý bồi thường giải phóng mặt bằng tại các địa phương đang diễn ra tốc độ đô thị hóa nhanh để làm căn cứ xây dựng phương án đền bù và hỗ trợ sinh kế toàn diện.

Thứ ba, các chủ đầu tư, tập đoàn phát triển bất động sản và khu đô thị quy mô lớn (trên 100 ha) có thể ứng dụng khung giải pháp an sinh xã hội nhằm xây dựng mối quan hệ hài hòa với cộng đồng dân cư bản địa, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng.

Thứ tư, các tổ chức đoàn thể xã hội như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ và các Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp tại địa phương dùng làm tài liệu định hướng chuyển đổi ngành nghề cho các hội viên.

Câu hỏi thường gặp

Tác động lớn nhất của việc thu hồi đất đối với các hộ nông dân tại huyện Gia Lâm là gì?
Tác động lớn nhất là sự suy giảm nghiêm trọng nguồn vốn tự nhiên khi diện tích canh tác giảm hơn 75%, làm mất đi tư liệu sản xuất chủ yếu và gây xáo trộn mô hình việc làm truyền thống của 120 hộ gia đình điều tra.

Tại sao lao động trong độ tuổi từ 40 đến 60 tuổi gặp nhiều khó khăn nhất sau khi mất đất?
Nhóm lao động này chiếm trên 45% tổng số lao động khảo sát nhưng có trình độ học vấn phổ thông hạn chế, khó tiếp cận các khóa đào tạo kỹ thuật công nghệ cao và khó đáp ứng tiêu chuẩn tuyển dụng khắt khe của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp.

Nguồn tiền bồi thường đất đã được người dân phân bổ như thế nào trong thực tế?
Khảo sát chỉ ra có hơn 62% nguồn tiền đền bù được sử dụng vào việc xây nhà và mua sắm sinh hoạt, trong khi chỉ khoảng 16% được đưa vào tái đầu tư sản xuất kinh doanh dịch vụ, cho thấy nguy cơ mất an toàn tài chính trong dài hạn.

Mô hình sinh kế phi nông nghiệp nào đang phát triển mạnh nhất tại khu vực nghiên cứu?
Mô hình thương mại - dịch vụ nhỏ lẻ bao gồm xây nhà trọ cho thuê, mở cửa hàng ăn uống tạp hóa và cung cấp dịch vụ phục vụ công trường đô thị chiếm tỷ trọng 58% tổng thu nhập của các hộ sau thu hồi đất.

Chính quyền địa phương cần ưu tiên chính sách nào để hỗ trợ nông dân ổn định cuộc sống?
Địa phương cần tập trung thực hiện chính sách liên kết đào tạo nghề gắn với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, đồng thời giải ngân gói vốn vay ưu đãi từ 70 đến 100 triệu đồng mỗi hộ qua Ngân hàng Chính sách Xã hội để tạo sinh kế lâu dài.

Kết luận

Luận văn đã làm sáng tỏ bức tranh toàn cảnh về sự biến đổi đời sống kinh tế - xã hội của nông dân vùng ven đô thông qua năm nội dung cốt lõi:

  • Khẳng định việc thu hồi 420 ha đất nông nghiệp cho dự án đô thị tạo ra cú sốc lớn đối với nguồn vốn tự nhiên của các hộ dân tại ba xã Dương Xá, Kiêu Kỵ và Đa Tốn.
  • Chỉ ra sự mất cân đối trong cơ cấu việc làm khi trên 45% lao động trung niên gặp khó khăn trong việc chuyển đổi ngành nghề phi nông nghiệp.
  • Lượng hóa thực trạng quản trị tài chính với hơn 62% tiền bồi thường chi cho tiêu dùng phi sản xuất, làm gia tăng tính dễ bị tổn thương kinh tế.
  • Minh chứng sự chuyển dịch thu nhập từ nông nghiệp xuống dưới 18%, phụ thuộc chủ yếu vào các hoạt động thương mại dịch vụ mang tính thời vụ.
  • Đề xuất thành công khung giải pháp đồng bộ kết hợp đào tạo nghề, hỗ trợ vốn tín dụng chính sách và liên kết tuyển dụng doanh nghiệp.

Đóng góp khoa học lớn nhất của công trình là hệ thống hóa khung sinh kế DFID áp dụng trực tiếp vào dự án đô thị hóa thực tế tại Việt Nam. Trong giai đoạn 2020 - 2030, chính quyền huyện Gia Lâm cần khẩn trương thực thi các đề án việc làm để đạt mục tiêu 85% người lao động mất đất có việc làm ổn định. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp hãy khai thác ngay nguồn tư liệu thực chứng quý giá từ luận văn để tối ưu hóa chính sách phát triển bền vững cho cộng đồng ven đô.