CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO (AI) -TRONG SẢN XUẤT SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN HÌNH 1. Một số khái niệm liên quan đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong sản xuất sản phẩm báo chí truyền hình. Trí tuệ nhân tạo Hiện nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về AI. Trong đề tài “Nghiên cứu lý luận chính trị nước ngoài” - TS.
Lê Xuân Tùng đã viết: “Tiếp cận ở góc độ đơn giản hơn, có thể hiểu AI là những hệ thống thể hiện hành vi thông minh bằng cách phân tích môi trường của chúng và đưa ra hành động với một mức độ tự chủ nhất định - nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể. Nói cách khác, AI liên quan đến việc sử dụng các kỹ thuật cho phép máy móc tiến gần hơn đến một số phương diện nhận thức của con người.”[29] Theo Andreas Kaplan - Giáo sư về Công Nghệ Mới và Chuyển Đổi Kỹ Thuật Số tại Trường Kinh Doanh ESCP thì thuật ngữ "trí tuệ nhân tạo" thường được sử dụng để mô tả các máy móc (máy tính) có khả năng bắt chước các chức năng "nhận thức" mà con người thường phải liên kết với tâm trí, như "học tập" và "giải quyết vấn đề". [14] Còn theo như phân tích của Trung tâm Công nghệ thông tin - Bộ Khoa học và Công nghệ, AI thuộc ngành khoa học máy tính do con người tạo ra và để hỗ trợ cho con người xử lý dữ liệu với số lượng lớn và tốc độ cao. AI là công nghệ sử dụng đến kỹ thuật số có khả năng thực hiện những nhiệm vụ mà bình thường phải cần tới trí thông minh của con người, được xem là phổ biến nhất.
Đặc trưng của công nghệ AI là năng lực “tự học” của máy tính, do đó có thể tự phán đoán, phân tích trước các dữ liệu mới mà không cần sự hỗ trợ của con người, đồng thời có khả năng xử lý dữ liệu với số lượng rất lớn và tốc độ cao. Hiện mỗi ngày 10 trên toàn cầu có khoảng 2,2 tỷ Gb dữ liệu mới (tương đương 165.000 tỷ trang tài liệu) được tạo ra và được các công ty, như Google, Twitter, Facebook, Amazon, Baidu, Weibo, Tencent hay Alibaba thu thập để tạo thành “dữ liệu lớn” (big data). Trí tuệ nhân tạo là một lĩnh vực liên quan đến chuyên ngành khoa học máy tính và công nghệ thông tin, bản chất của trí tuệ nhân tạo vẫn do con người làm ra, họ xây dựng các thuật toán, lập trình bằng các công cụ phần mềm công nghệ thông tin, giúp các máy tính có thể tự động xử lý các hành vi thông minh như con người. [31] Trong Ấn phẩm “WIPO Technology Trends 2019 - Artificial Intelligence” do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã đưa ra định nghĩa như sau: “Trí tuệ nhân tạo là một kỹ thuật số mới sẽ tác động sâu sắc đến thế giới, chuyển đổi cách chúng ta sống và làm việc” [30] Ở thời điểm hiện tại có thể nói có rất nhiều các khái niệm liên quan đến AI và được định nghĩa theo nhiều góc độ khác nhau.
Điểm lại tổng hợp định nghĩa trí tuệ nhân tạo AI được hiểu như sau: Trí tuệ nhân tạo là một ngành thuộc lĩnh vực khoa học máy tính (Computer science). Đây thực chất là dạng trí trí tuệ thông minh do con người lập trình ra với mục tiêu cụ thể đó là biến chiếc máy tính thành công cụ hỗ trợ hoạt động tự động hóa các hành vi thông minh giống như con người sở hữu. Điểm khác biệt to lớn nhất của AI so với lập trình logic đó là việc ứng dụng các hệ thống máy học (machine learning) để mô phỏng trí tuệ của con người nhưng là kiểu xử lý mà con người đang làm tốt hơn máy tính hiện tại. Ví dụ rõ nhất là việc máy tính sở hữu tư duy, trí tuệ như con người như: biết tư duy hay lập luận để giải quyết vấn đề, có thể giao tiếp như con người, có tiếng nói, biết nhận thức ngôn ngữ, khả năng thu thập và xử lý dữ liệu lớn hơn và chính xác hơn con người.
11 Hiện tại trí tuệ nhân tạo đang dần được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có báo chí. Báo chí là ngành có đặc điểm ứng dụng công nghệ, kỹ thuật số nhiều trong hoạt động sản xuất tác phẩm báo chí nên việc ứng dụng AI đã và đang có những bước tiến mới đầy tiềm năng. Sau khi tham khảo và tổng hợp của các nguồn, tác giả khóa luận đưa ra định nghĩa về trí tuệ nhân tại như sau: Trí tuệ nhân tạo là trí tuệ do con người tạo ra bằng việc sử dụng công nghệ máy tính lập trình lên các chương trình xử lý thông minh hơn, tự động hóa để hiện thực hóa những điều mà con người chưa thể thực hiện hoặc thực hiện chưa chính xác dựa vào hệ thống dữ liệu đầu vào được con người đưa vào. Trí tuệ nhân tạo có thể đạt tới khả năng hiểu biết, phân tích, đưa ra kết quả và thích nghi.
Trí tuệ nhân tạo sinh ra để thay đổi cuộc sống của con người trở nên tiện nghi hơn, hiện đại hơn, phát triển hơn. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo là việc ứng dụng những thành tựu khoa học về trí tuệ nhân tạo vào các hoạt động trong đời sống con người, các lĩnh vực kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, truyền thông… nhằm hỗ trợ con người xử lý công việc nhanh chóng, hiệu quả, tối ưu, hệ thống hơn, thông minh hơn. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào các lĩnh vực trong cuộc sống là xu thế tất yếu tạo ra nhiều bước đột phá mới. Báo chí truyền hình PGS.
Nguyễn Văn Dững trong cuốn “Báo chí truyền thông hiện đại” đã nêu khái niệm về truyền hình như sau: “Truyền hình bao gồm các chương trình thời sự, chính luận, chương trình giải trí, chương trình phim. Truyền hình là lĩnh vực đa nghề, có tính tổng hợp, như ánh sáng cho truyền hình, trang trí sân khấu cho truyền hình, mộc sân khấu truyền hình âm thanh.” [8] Trong đó hình ảnh và âm thanh là yếu tố chính cấu thành nên hình thức truyền tải nội dung của truyền hình. “Với sự kết hợp giữa hợp giữa hình ảnh động và âm thanh truyền hình đem lại cho con người cảm giác về một cuộc sống 12 đang hiện diện trong trước mắt. Đó là sự thật được cô đọng lại, làm giàu hơn ý nghĩa và sáng tỏ hơn về nhận thức và phong phú hơn về những khía cạnh, đường nét sinh động” [18] Về mặt hình truyền tải truyền hình được chia ra thành 4 hình thức: “Xét theo góc độ kỹ thuật truyền tải có truyền hình sóng (wireless TV) và truyền hình cáp (CATV).
Xét dưới góc độ thương mại có truyền hình công cộng (public TV) và truyền hình thương mại (commercial TV). Xét theo tiêu chí mục đích nội dung, người ta chia truyền hình thành truyền hình giáo dục, truyền hình giải trí, … Xét theo góc độ kỹ thuật có truyền hình tương tự (Analog TV) và truyền hình số (Digital TV)” [22] Trong lĩnh vực của đời sống xã hội đương đại truyền hình tham gia như một nhân tố chủ động, tích cực nhằm thúc đẩy sự hình thành của những trào lưu, xu hướng, tạo nên sự thay đổi lớn lao trong đời sống xã hội. Sự ra đời của truyền hình góp phần tạo nên hệ thống truyền thông đại chúng càng thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về số lượng mà còn thêm về chất lượng. Với những ưu thế về kỹ thuật và công nghệ, truyền hình đã làm cho cuộc sống như được cô đọng hơn, làm giàu thêm ý nghĩa, sáng tỏ về hình thức và phong phú hơn về nội dung.
Sản phẩm báo chí truyền hình “Sản phẩm báo chí truyền hình là sản phẩm được tạo ra từ quá trình tổ chức sản xuất truyền hình đưa đến phục vụ công chúng” [28] Tổ chức nội dung sản phẩm truyền hình là việc lập kế hoạch, sắp xếp, dự kiến các đề tài, chủ đề của các chương trình, kênh chương trình truyền hình sao cho hợp lý, dễ theo dõi. Các dạng thức tổ chức nội dung sản phẩm truyền hình: Tùy theo tính chất đặc thù từng kênh, Format chương trình, tùy theo định hướng phát triển, kinh doanh của cơ quan chủ quản có thể chia ra 3 dạng tổ chức nội dung: Tổ chức nội dung sản phẩm riêng lẻ, tổ chức nội dung hàng loạt, tổ chức 13 nội dụng sản phẩm theo định kỳ. Như vậy trong quá trình sản xuất sản phẩm báo chí truyền hình cần sự phối hợp của nhiều yếu tố công nghệ sản xuất kết hợp cùng sự sáng tạo của nhà báo. Một sản phẩm báo chí truyền hình là kết quả của quá trình làm việc kết hợp giữa nhiều khâu, công đoạn để phù hợp với mục tiêu truyền tải thông tin đến khán giả xem truyền hình.
Những thuật ngữ chuyên môn VR, AR, chatbot, SEo….giải thích vài dòng để người đọc hiểu 1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển trí tuệ nhân tạo Theo đánh giá về chỉ số sẵn sàng trí tuệ nhân tạo của chính phủ do Oxford Insights (Vương quốc Anh) và Trung tâm nghiên cứu phát triển quốc tế của Canada thực hiện, năm 2021, Việt Nam hiện xếp vị trí thứ 62 toàn cầu. Việt Nam đã có sự đầu tư mạnh mẽ, đúng hướng, thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo một cách hiệu quả. Các kết quả nghiên cứu không chỉ được tận dụng để phát triển các sản phẩm công nghệ có giá trị thương mại mà còn giúp giải quyết nhiều vấn đề đặt ra từ cuộc sống.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI trong sản xuất, phát triển các ngành nghề lĩnh vực trong xã hội đã được tập trung áp dụng trong nhiều năm qua. Xuất phát từ nhu cầu thực tế và xu thế tất yếu sự phát triển của trí tuệ nhân tạo AI nói riêng và công nghệ số nói chung đã và đang được chính phủ, nhà nước ta tập trung đầu tư, phát triển nhằm tạo ra những thay đổi tích cực. Từ năm 2014, AI đã được Nhà nước ta đưa vào danh mục công nghệ cao ưu tiên đầu tư phát triển của Việt Nam. Mới đây trong Quyết định Số: 411/QĐ-TTg ngày 31 tháng 3 năm 2022 của Thủ Tướng Chính phủ về “Phê duyệt chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đã khẳng định Việt Nam đang bước vào thời kỳ cần tập trung phát triển kinh tế số và xã hội số để bứt phá vươn lên thay đổi thứ hạng quốc gia.