CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CHO MÔ HÌNH KINH DOANH NÔNG TRẠI 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến thương mại điện tử 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu Ngày nay cùng với sự phát triển nhanh chóng của Internet thương mại điện tử đã phát triển bùng nổ kể cả về quy mô và chất lượng đặt ra những thách thức rất lớn đối với các thành phần kinh tế nhỏ lẻ đặc biệt là các hộ kinh doanh mô hình nông trại khi họ xây dựng các chiến lược phát triển thương mại điện tử. Việc phát triển một chiến lược phù hợp là đặc biệt khó khăn đối với mô hình này do các ứng dụng phần mềm và công nghệ thông tin mới dường như thay đổi liên tục.
Trong năm 2020 nền kinh tế chậm lại do ảnh hưởng nghiêm trọng của nạn dịch COVID-19 cho phép các hộ kinh doanh mô hình nông trại có thêm thời gian để xem xét cách sử dụng thương mại điện tử như một công cụ để thực hiện các giao dịch kinh doanh hiệu quả. Các vấn đề chính mà các mô hình kinh doanh nông trại quan tâm là sự dịch chuyển của sản phẩm và dịch vụ từ các hộ sản xuất và kinh doanh hàng nông sản đến người dùng cuối cùng thông qua chuỗi cung ứng liên tục trong đó bao gồm các yếu tố quan trọng như thương lượng, giao dịch, hậu cần, xúc tiến, thông tin, tài chính và sản xuất. Do đó cần có nhiều bên tham gia hỗ trợ về kỹ thuật cũng như pháp lý kinh doanh trực tuyến cho các mô hình kinh doanh nông trại. Không giống như các sản phẩm ở các lĩnh vực khác, nông sản đa dạng và phức tạp hơn rất nhiều đặc biệt là khâu chế biến và vận chuyển.
Ví dụ: trái cây và rau quả rất dễ hư hỏng do đó phải đến được thị trường cũng như tay người tiêu dùng trong một thời gian ngắn. Một trong những vấn đề đối với ứng dụng CNTT trong nông nghiệp là thiếu các thước đo tiêu chuẩn về đặc tính và chất lượng của các sản phẩm và chế biến thực phẩm dễ hư hỏng [26]. Yaping Huo and Huiping Mu so sánh 7 khía cạnh khác 9 nhau từ các mô hình phát triển của thương mại điện tử trong tiêu thụ nông sản kinh điển như mô hình tootoo, mô hình Suichang model (service platform type) từ đó phát triển mô hình thương mại điện tử cho các sản phẩm nông nghiệp của Trung Quốc [34]. Ông cũng khuyến cáo rằng các công ty thương mại điện tử nên kiểm soát chặt chẽ chất lượng và thiết lập một bộ sản phẩm nông nghiệp an toàn.
Là quốc gia vẫn còn phụ thuộc khá nhiều vào nền nông nghiệp Việt Nam nói chung và Quảng Bình nói riêng phải tham gia vào việc xác định các tiêu chuẩn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trong nước và quốc tế. Xiaodong Liu & John Walsh dựa trên kinh nghiệm về ứng dụng thương mại điện tử cho sản phẩm nông nghiệp tươi ở các nước phát triển để đưa ra bốn đề xuất nhằm phát triển thương mại điện tử cho Trung Quốc bao gồm tăng cường xây dựng thông tin hóa nông nghiệp; cải thiện cơ chế lập pháp nhằm giám sát hiệu quả; thiết lập các trang web thương mại điện tử chuyên biệt cho các sản phẩm nông nghiệp tươi sống kết hợp đào tạo chuyên gia đầu ngành thương mại điện tử trong nông nghiệp [33][14]. Nghiên cứu phát hiện ra sáu biến số, tính hữu ích được cảm nhận, tính dễ sử dụng được cảm nhận, tính sáng tạo cá nhân, tính tương thích, độ tin cậy được nhận thức, chi phí, tất cả đều ảnh hưởng đáng kể đến thái độ của người dùng đối với việc áp dụng thương mại điện tử trên nền tảng di động (m-commerce). Yongqiang Zhang thực hiện phân tích thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến nền kinh tế nông nghiệp, kết quả cho thấy giá nông sản, thời gian vận chuyển, chất lượng sản phẩm, mức độ dịch vụ, uy tín, thói quen chi tiêu, lợi nhuận và vốn hoạt động là những yếu tố chính sẽ ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp [13].
Zhang Jinlong nghiên cứu về mô hình ứng dụng của thương mại điện tử B2B trong ngành nông nghiệp cho rằng có 2 mô hình chính có thể ứng dụng hiệu quả trong nông nghiệp đó là e-market intermediation model (EMIM), và mô hình Integrative content center model (ICCM) [31]. Trong đó ICCM sẽ là bước chuyển đổi quan trọng từ thương mại điện tử đơn giá thành thương mại điện tử tích hợp. Henderson chỉ ra rằng chìa khóa để mở rộng hoạt động thương mại điện tử của nông dân là khả năng xây dựng các mối quan hệ cá nhân qua Internet để đáp ứng nhu cầu dịch vụ của họ [28]. Trong giai 10 đoạn từ 2010 đến 2016 Việt Nam cũng có một số tác giả đề cập đến phương pháp này như Lê Văn Sơn [16]; Nguyễn Xuân Thủy [17][18][19]; Nguyễn Tài Phúc [15].
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phương pháp chủ yếu là đánh giá tác động của thương mại điện tử đối với việc tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp [24]. Từ đó đưa ra một số giải pháp hữu hiệu nhằm năng cao khả năng ứng dụng TMĐT mang lại hiệu quả kinh tế cho các mô hình kinh doanh nông trại tại Quảng Bình. Hơn nữa tác giả đã phân tích các mô hình thương mại điện tử thành công trong nông nghiệp từ đó thiết kế mô hình thương mại điện tử cho các mô hình kinh doanh nông trại phù hợp với thực tiễn địa phương. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm tìm ra những chiến lược ứng dụng thương mại điện tử phù hợp và hiệu quả cho mô hình kinh doanh nông trại tại Quảng Bình.
Từ đó đề xuất các mô hình kinh doanh thương mại điện tử phục vụ cho các đối tượng này. Những thách thức và rào cản đối với mô hình kinh doanh nông trại Hiện nay các sản phẩm nông sản của nước ngoài phong phú, đa dạng và chất lượng hơn nên người tiêu dùng và đặc biệt là thế hệ người tiêu dùng trẻ hiện vẫn khá ưa chuộng mua hàng trực tuyến thông qua các trang thương mại điện tử lớn như Lazada hay Amazon… Làn sóng đầu tư của sản phẩm nông sản nước ngoài thông qua các kênh thương mại điện tử lớn rất mạnh mẽ do đó nếu không có sự quan tâm đúng mức thì thương mại điện tử cho nông hộ nhỏ lẻ trong tương lai có thể chỉ là sân chơi của những tên tuổi lớn [21][9]. Người tiêu dùng nông sản vẫn còn chưa có nhiều niềm tin đối với môi trường giao dịch kinh doanh thương mại không giấy tờ, không tiếp xúc trực tiếp. Họ còn lo ngại khi sử dụng thanh toán trực tuyến trên các trang web thương mại điện tử do vấn đề bảo mật trong thanh toán.
Điểm yếu của nhiều mô hình kinh doanh nông trại hiện nay, nhất là các nông trại có quy mô nhỏ, đã làm mất đi cơ hội bán hàng trực tiếp ra nước ngoài mà không cần qua trung gian. Uy tín của doanh nghiệp hỗ trợ bán hàng nông sản trực tuyến trong nước vẫn còn chưa được đánh giá cao khi so với các doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến toàn cầu [7]. Chất lượng, mẫu mã của các sản phẩm nông sản trong nước 11 vẫn chưa bằng được với những sản phẩm tương tự của các nước khác. Hơn nữa việc chi phí tốn kém trong giai đoạn đầu là lý do chính mà thương mại điện tử chưa được ứng dụng rộng rãi ở các mô hình kinh doanh nông trại [20].
Vấn đề an ninh, an toàn, bảo mật thông tin… trên các giao dịch điện tử vẫn chưa thể khiến người tiêu dùng an tâm. Rào cản khiến cho các mô hình kinh doanh nông trại cũng như các doanh nghiệp tham gia tiêu thụ nông sản trong nước có ứng dụng thương mại điện tử gặp khó khi cạnh tranh với các quốc gia phát triển khác vì các lý do các công cụ xây dựng phần mềm vẫn còn trong giai đoạn phát triển; tốc độ Internet không ổn định; hệ thống thông tin Internet vẫn còn khả năng xuất hiện các đợt virus tấn công làm các tệp dữ liệu bị phá hủy, tin tặc có thể truy cập trái phép hệ thống để lấy cắp thông tin khách hàng, hủy hoại dữ liệu. Mô hình thương mại điện tử cho nông nghiệp nông thôn Theo Rahman về tổng quan mô hình thương mại điện tử nông nghiệp là tập trung vào hai hướng chính là trao đổi thông tin lớn hơn và thúc đẩy kỹ thuật cho nông trại. Tái cấu trúc cách thức bán hàng & tiếp thị cho sản phẩm nông sản với hai thành phần là nền tảng trao đổi thương mại điện tử và nguồn cung đầu vào chất lượng [29].
Mô hình này được hỗ trợ thêm bởi hai yếu tố thành công quan trọng khác [25] có đóng góp đáng kể vào việc triển khai ứng dụng thương mại điện tử nông nghiệp. Các yếu tố này là Trung tâm thông tin thông minh nông thôn và quan điểm của chuyên gia. Mô hình này có thể được nâng cao hơn nữa với khả năng tiếp thị các sản phẩm nông nghiệp trên thị trường quốc tế bằng cách áp dụng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Khả năng thâm nhập mặt hàng nông sản của nước đang phát triển như Việt Nam vào thị trường xuất khẩu thế giới đặc biệt là các nền kinh tế phát triển như Mỹ, Nhật, Châu Âu sẽ tùy thuộc vào năng lực về chất lượng sản phẩm nông sản và trình độ phát triển thương mại điện tử.
Mô hình này có thể được sử dụng làm công cụ để xác định các chỉ số nâng cao năng lực cho nông trại ở khu vực nông thôn của Việt Nam. 12 Trung tâm thông tin Quan điểm của thông minh nông thôn chuyên gia Khung thương mại điện tử trong nông nghiệp Thúc đẩy kỹ thuật cao cho Nền tảng trao đổi thương nông trại mại Trao đổi thông tin lớn hơn Nguồn cung cấp đầu vào chất lượng Chỉ số thành công cho Thực hành sản xuất tốt, an việc nâng cao vị thế ở toàn thực phẩm nông thôn Sơ đồ 1.1 Mô hình thương mại điện tử cho nông nghiệp nông thôn Ngoài mô hình mô hình thương mại điện tử cho nông nghiệp nông thôn chúng ta có một số mô hình hỗ trợ khác như mô hình phân phối định hướng và mô hình cổng giao dịch. Trong mô hình phân phối định hướng, người bán sẽ cung cấp các hàng hóa, dịch vụ có liên quan tới một ngành công nghiệp hoặc một phân đoạn thị trường định trước.