CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÂU THUẪN VÀ PHÂN HÓA GIÀU NGHÈO 1. VỀ MÂU THUẪN 1. Khái niệm về mâu thuẫn Khái niệm mâu thuẫn là để nói về tính hai mặt của tất cả các sự vật, hiện tượng: trong âm có dương, trong tốt có xấu, như vậy mọi sự vật đều vận động theo hướng hài hòa. Triết học phương Tây kết luận rằng mâu thuẫn là động lực của sự phát triển, bởi vì trong mỗi sự vật đều có ít nhất hai mặt, hai lập trường, hai thế lực đối kháng, và các thế lực đó sẽ tìm cách triệt tiêu nhau để chiếm lĩnh chủ thể, quá trình đó đẩy mâu thuẫn phát triển đến đỉnh điểm và khi mâu thuẫn phát triển đến đỉnh điểm thì chủ thể sẽ biến đổi cả về lượng và chất sang một hình thái mới.
Còn triết học phương Đông thì cho rằng, các nhân tố âm dương trong một chủ thể luôn vận động và biến đổi luân hồi, âm thịnh thì dương suy, bĩ cực thái lai. Mâu thuẫn là phạm trù của phép biện chứng, biểu hiện nguồn gốc bên trong của mọi sự vận động, gốc rễ của sự sống, nguyên lý của sự phát triển. Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng. Mâu thuẫn biện chứng tồn tại khách quan và phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
Mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và là nguồn gốc phát triển của nhận thức. Mâu thuẫn biện chứng tồn tại trong cả tự nhiên lẫn trong xã hội và tư duy. Mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là sự phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và là nguồn gốc phát triển của nhận thức, của tư duy trên con đường vươn tới chân lý khách quan, chân lý tuyệt đối về hiện thực. Cần phân biệt mâu thuẫn biện chứng được phản ánh vào trong tư duy, Luan van 9 trong các khái niệm, lý luận với cái gọi là những mâu thuẫn logic biểu hiện sự mơ hồ tính chất không triệt để của tư tưởng.
Những mâu thuẫn logic hình thức chỉ tồn tại trong tư duy, nó xuất hiện do sai lầm trong tư duy. Mâu thuẫn logic hình thức là mâu thuẫn được tạo thành từ hai phán đoán phủ định nhau về cùng một quan hệ cùng một thời điểm; trong hai phán đoán đối lập đó, chỉ có một là chân lý. Quy luật mâu thuẫn là sự phản ánh vào tư duy tính xác định về vật chất của các khách thể, là sự phản ánh cái sự thật giản đơn là nếu không nói đến sự biến đổi của khách thể, thì nó không thể đồng thời có được những đặc tính bài trừ lẫn nhau. Mọi sự vật đều chứa đựng mâu thuẫn bên trong, bởi vì bản chất của mọi sự vật là động chứ không tĩnh, khi sự vật vận động thì mâu thuẫn phát sinh.
Như vậy, chúng ta nên hiểu rằng mâu thuẫn là đương nhiên tồn tại và là tốt chứ không phải xấu, vì nó giúp cho sự phát triển. Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan và phổ biến Đứng trên lập trường duy vật, kế thừa một cách có phê phán tất cả những thành thành tựu có giá trị trong toàn bộ lịch sử triết học, dựa trên những thành tựu có tính chất vạch thời đại của khoa học hiện đại và thực tiễn lúc bấy giờ, Mác và Ăngghen đã phát triển học thuyết về mâu thuẫn trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng, khoa học và sau này Lênin coi học thuyết đó là hạt nhân của phép biện chứng. Thế giới tồn tại khách quan, luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển không ngừng. Nói đến sự vận động, biến đổi và phát triển chúng ta phải biết sự vận động, biến đổi và phát triển đó trên ba phương diện: cái gì làm cho sự vật vận động, biến đổi và phát triển? Phương thức sự vận động, biến đổi và phát triển? Vận động, biến đổi và phát triển theo khuynh hướng nào? Nhưng trước khi muốn biết sự vật vận động, biến đổi và phát triển theo phương thức nào, khuynh hướng nào chúng ta phải biết nguồn gốc của vận động, biến đổi Luan van 10 và phát triển của sự vật.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác tìm thấy nguồn gốc vận động, biến đổi và phát triển của sự vật ngay trong sự vật đó, trong những mâu thuẫn nội tại của bản thân sự vật. Do đó, mâu thuẫn là khách quan, phổ biến. Vấn đề đó đã được Mác, Ăngghen và Lênin luận chứng, làm sáng tỏ trong các tác phẩm của mình. Trong công trình bút chiến “Chống Đuyrinh” công trình được Lênin xem “Đó là một cuốn sách có nội dung đặc biệt phong phú và bổ ích” [9, tr.11], để chỉ ra tính khách quan của mâu thuẫn, Ăngghen phê phán: nếu là thế giới quan siêu hình thì Đuyrinh không thể hiểu nổi vận động có đặc trưng mâu thuẫn - thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn.
Ông minh chứng cho phê phán đó: “Ở đây chúng ta có một mâu thuẫn “tồn tại một cách khách quan ở trong bản thân các sự vật và các quá trình” và có thể phát hiện ra dưới một hình thức hữu hình. Về điểm này, ông Đuyrinh nói như thế nào? Ông ta khẳng định rằng, nói chung cho đến ngày nay, vẫn không có “một cái cầu nào nối liền giữa cái tĩnh triệt để và cái động trong khoa học cơ học hợp lý”. Và thế là bạn đọc đã có thể nhìn thấy cái ẩn nấp ở đằng sau câu nói theo sở thích đó của ông Đuyrinh; chẳng có gì khác hơn là: một người mà đầu óc suy nghĩ theo cách siêu hình thì tuyệt đối không thể từ quan niệm tĩnh mà chuyển sang quan niệm động được, vì ở đây cái mâu thuẫn nói trên đã chặn mất đường đi rồi. Sự vận động vì là một mâu thuẫn nên hoàn toàn không thể hiểu được đối với người đó.
Song khi đã khẳng định tính chất của vận động là không thể hiểu được, thì chính bản thân người đó đã đi ngược lại ý chí của mình mà thừa nhận sự tồn tại của mâu thuẫn đó: tức là thừa nhận rằng trong bản thân các sự vật và các quá trình, có một mâu thuẫn tồn tại khách quan, hơn nữa mâu thuẫn đó lại là một lực lượng có thực” [9, tr. Khi bàn đến tính khách quan của mâu thuẫn, Ăngghen tiếp tục khẳng định: “Nếu bản thân sự di động một cách máy móc đơn giản đã chứa mâu thuẫn, thì tất Luan van 11 nhiên những hình thức vận động cao hơn của vật chất và đặc biệt là sự sống hữu cơ và sự phát triển của sự sống hữu cơ đó lại càng phải chứa đựng mâu thuẫn như vậy. sự sống trước hết chính là ở chỗ một sinh vật trong mỗi lúc vừa là nó nhưng vừa là một cái khác. Như vậy, sự sống cũng là một mâu thuẫn tồn tại trong bản thân các sự vật và các quá trình, tự đề ra và tự giải quyết không ngừng, và khi mâu thuẫn đã hết thì sự sống cũng không còn nữa và cái chết sẽ xảy đến” [9, tr.
Mâu thuẫn là hiện tượng phổ biến có nghĩa là mâu thuẫn tồn tại trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy. Mâu thuẫn tồn tại phổ biến chẳng những ở mọi sự vật hiện tượng, mà còn phổ biến trong suốt quá trình vận động và phát triển của chúng. Trong cuộc đấu tranh chống lại những tư tưởng thù địch đủ màu sắc trong khoa học tự nhiên, đòi hỏi các nhà khoa học tự nhiên cần nắm vững quan điểm duy vật biện chứng một cách có ý thức và có ý nghĩa lớn hơn thế nữa là để bảo vệ những nguyên lý cơ bản của triết học Mác, tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” của Ăng-ghen ra đời cũng nhằm mục đích đó. Với những thành tựu của khoa học tự nhiên thời kỳ này bằng nhiều minh hoạ phong phú và sinh động, Ăng-hen làm sáng tỏ tính phổ biến của mâu thuẫn trong tự nhiên: “Cái cây, con vật, mỗi tế bào, trong mỗi lúc của đời nó, là đồng nhất với nó, nhưng lại khác biệt với bản thân nó, do sự đồng hoá và bài tiết các chất, do sự hô hấp, sự tạo thành và sự huỷ diệt các tế bào, do quá trình diễn biến của sự tuần hoàn - tóm lại do tổng số các biến đổi không ngừng của các phân tử.
Ăng-ghen cũng chỉ ra mâu thuẫn không chỉ diễn ra trong giới hữu cơ mà ngay cả giới vô cơ; chẳng hạn trong toán học, ông cho rằng, chúng ta đã nói đến một trong những cơ sở chính của toán học cao cấp là mâu thuẫn: trong một số trường hợp nào đó thì thẳng và cong đều phải như nhau. Toán cao cấp lại còn một số mâu thuẫn khác nữa, tức là dưới mắt ta có những đường cắt nhau, nhưng chỉ cách điểm cắt nhau 5 hay 6 phân Luan van 12 mà thôi, thì những đường đó phải được coi như là những đường song hành, tức là được coi như những đường mà dù có kéo dài vô tận cũng không thể nào cắt nhau được. Khi vạch trần thực chất các quan niệm Stiếcnơ về lịch sử, trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” Mác và Ăng-ghen đã vận dụng học thuyết mâu thuẫn biện chứng vào trong đời sống xã hội, hai ông phát hiện ra rằng: “như vậy, theo quan điểm của chúng tôi, tất cả mọi xung đột trong lịch sử đều bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và hình thức giao tiếp”[13, tr. Vấn đề đó, lại một lần nữa được làm sáng tỏ trong bộ “Tư bản” - tác phẩm được coi là sự nghiệp của cả cuộc đời Mác.
Ở đó, Mác ghi nhận các mặt đối lập của những hiện tượng kinh tế, không những thế ông còn chỉ ra sự thống nhất bên trong của chúng với tư cách những yếu tố nội tại của một bản chất. Thông qua đó, ông phát hiện đúng mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản, làm sáng tỏ nội dung, tính chất của những mâu thuẫn đối kháng trong xã hội đó, trước hết là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất. Mâu thuẫn kinh tế nêu trên được thể trên lĩnh vực xã hội thành mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản, qua đây ông chỉ ra lực lượng xã hội cơ bản có thể lãnh đạo cách mạng nhằm xóa bỏ xã hội tư bản và xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa là giai cấp vô sản. Lênin coi bộ Tư bản của Mác là mẫu mực của việc áp dụng phép biện chứng vào nghiên cứu một xã hội cụ thể - xã hội tư bản chủ nghĩa.