Luận văn thạc sĩ: Vận dụng phương pháp WebQuest trong dạy học nhóm Oxi hóa học lớp 10

Luận văn thạc sĩ giáo dục nghiên cứu vận dụng phương pháp webquest trong dạy học chương nhóm oxi hóa học lớp 10 nâng cao, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải

Chuyên ngành

Hóa Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2012

106
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.2. Tổng quan về việc ứng dụng ICT trong dạy học hóa học ở trường THPT

1.3. Thực trạng về việc ứng dụng ICT trong giáo dục ở Việt Nam

1.4. Các hình thức ứng dụng ICT trong dạy học

1.5. Tổng quan về phương pháp webquest và trang WebQuest

1.5.1. Khái niệm về phương pháp webquest. Khái niệm trang WebQuest

1.5.2. Đặc điểm của việc học tập với phương pháp webquest

1.5.3. Các dạng nhiệm vụ trong WebQuest

1.5.4. Cấu trúc chung của WebQuest

1.5.5. Quy trình thiết kế một WebQuest

1.5.6. Tiến trình thực hiện dạy học bằng phương pháp webquest

1.5.7. Các tiêu chí để đánh giá nội dung một WebQuest

1.5.8. Giới thiệu một số công cụ tạo website trực tuyến. Sử dụng Google Sites để thiết kế WebQuest

1.6. Nội dung, phương pháp dạy học chương “Nhóm Oxi”

1.6.1. Giới thiệu nội dung chương “Nhóm Oxi”

1.6.2. Nguyên tắc sư phạm khi giảng dạy chương “Nhóm Oxi”

1.7. VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP WEBQUEST TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “NHÓM OXI” (HÓA HỌC 10 NÂNG CAO)

1.7.1. Cấu trúc chung của WebQuest

1.7.2. Giới thiệu hệ thống WebQuest đã thiết kế

1.7.3. Bài “Ozon và Hidro peOxit”

1.7.4. Bài “Hợp chất có Oxi của Lưu huỳnh”

2. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

2.1. Mục đích thực nghiệm

2.2. Nội dung thực nghiệm

2.3. Đối tượng thực nghiệm

2.4. Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm

2.5. Tiến hành thực nghiệm

2.6. Kết quả thực nghiệm

2.7. Một số sản phẩm của HS

2.8. Kết quả nhận xét của GV, giáo sinh và HS về WebQuest và phương pháp webquest

2.9. Kết quả bài kiểm tra của HS

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về phương pháp WebQuest

Phương pháp WebQuest được phát triển bởi Bernie Dodge vào năm 1995, nhằm tạo ra một môi trường học tập tích cực cho học sinh. WebQuest không chỉ đơn thuần là một bài học trực tuyến mà còn là một phương pháp dạy học giúp học sinh phát triển kỹ năng tìm kiếm, phân tích và tổng hợp thông tin. Đặc điểm nổi bật của WebQuest là việc học sinh được giao nhiệm vụ cụ thể, từ đó tự tìm kiếm thông tin từ các nguồn tài liệu đã được giáo viên lựa chọn. Điều này giúp học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn phát triển khả năng tư duy phản biện và kỹ năng làm việc nhóm. Theo Dodge, WebQuest giúp học sinh học nhiều hơn và giáo viên dạy ít hơn, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học. Việc áp dụng WebQuest trong dạy học hóa học, đặc biệt là chương “Nhóm Oxi”, sẽ tạo ra một không gian học tập thú vị và hiệu quả cho học sinh.

1.1. Đặc điểm của phương pháp WebQuest

Một trong những đặc điểm quan trọng của WebQuest là tính tương tác và hợp tác trong học tập. Học sinh không chỉ làm việc độc lập mà còn phải tương tác với nhau để hoàn thành nhiệm vụ. Điều này thúc đẩy kỹ năng hợp táctương tác nhóm, giúp học sinh học hỏi lẫn nhau. Hơn nữa, WebQuest khuyến khích học sinh sử dụng công nghệ thông tin để tìm kiếm và xử lý thông tin, từ đó phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề. Việc thiết kế một WebQuest hiệu quả đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nội dung và cách thức tổ chức hoạt động học tập. Điều này không chỉ giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách chủ động mà còn tạo ra sự hứng thú trong học tập.

II. Ứng dụng WebQuest trong dạy học nhóm Oxi hóa học lớp 10

Chương “Nhóm Oxi” trong chương trình hóa học lớp 10 là một nội dung quan trọng, giúp học sinh hiểu rõ về các hợp chất và tính chất của oxy. Việc áp dụng phương pháp WebQuest trong dạy học chương này không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn phát triển kỹ năng tự họctư duy phản biện. Qua việc thiết kế các nhiệm vụ học tập cụ thể, học sinh sẽ được khuyến khích tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, từ đó hình thành quan điểm cá nhân về các vấn đề liên quan đến oxy và các hợp chất của nó. WebQuest cũng tạo cơ hội cho học sinh làm việc nhóm, từ đó phát triển kỹ năng giao tiếphợp tác. Việc đánh giá kết quả học tập thông qua các sản phẩm nhóm sẽ giúp giáo viên có cái nhìn tổng quan về khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh.

2.1. Thiết kế WebQuest cho chương Nhóm Oxi

Thiết kế một WebQuest cho chương “Nhóm Oxi” cần phải đảm bảo tính khoa học và thực tiễn. Nội dung của WebQuest phải được xây dựng dựa trên các mục tiêu học tập cụ thể, giúp học sinh dễ dàng tiếp cận và thực hiện. Các nhiệm vụ trong WebQuest nên được phân chia rõ ràng, từ việc tìm kiếm thông tin, phân tích dữ liệu đến việc trình bày kết quả. Học sinh có thể được yêu cầu tạo ra các sản phẩm như báo cáo, bài thuyết trình hoặc video để thể hiện kết quả học tập của mình. Việc sử dụng công nghệ thông tin trong thiết kế WebQuest sẽ giúp học sinh phát triển kỹ năng công nghệ và khả năng làm việc độc lập. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng dạy học mà còn giúp học sinh tự tin hơn trong việc trình bày ý tưởng và quan điểm của mình.

III. Đánh giá hiệu quả của phương pháp WebQuest

Việc đánh giá hiệu quả của phương pháp WebQuest trong dạy học nhóm Oxi hóa học lớp 10 có thể được thực hiện qua nhiều hình thức khác nhau. Đánh giá có thể dựa trên kết quả học tập của học sinh, sự tham gia của học sinh trong các hoạt động nhóm và phản hồi từ giáo viên. Các tiêu chí đánh giá cần được xây dựng rõ ràng, giúp học sinh hiểu được những gì họ cần đạt được. Hơn nữa, việc thu thập ý kiến phản hồi từ học sinh về phương pháp dạy học cũng rất quan trọng. Điều này không chỉ giúp giáo viên cải thiện phương pháp dạy học mà còn tạo cơ hội cho học sinh thể hiện quan điểm và cảm nhận của mình về quá trình học tập. Kết quả thực nghiệm cho thấy, việc áp dụng WebQuest đã nâng cao hứng thú học tập của học sinh, từ đó cải thiện kết quả học tập trong môn hóa học.

3.1. Kết quả thực nghiệm và nhận xét

Kết quả thực nghiệm cho thấy, học sinh tham gia vào WebQuest có sự tiến bộ rõ rệt trong việc nắm bắt kiến thức và phát triển kỹ năng mềm. Học sinh không chỉ học hỏi từ giáo viên mà còn từ bạn bè, tạo ra một môi trường học tập tích cực và hiệu quả. Phản hồi từ học sinh cho thấy họ cảm thấy hứng thú hơn với môn hóa học khi được học theo phương pháp này. Giáo viên cũng nhận thấy sự cải thiện trong khả năng làm việc nhóm và kỹ năng giao tiếp của học sinh. Điều này chứng tỏ rằng WebQuest không chỉ là một phương pháp dạy học hiệu quả mà còn là một công cụ hữu ích trong việc phát triển toàn diện cho học sinh.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Năm 1995 Bernie Dodge ở trường đại học San Diego State University (Mỹ) đã xây dựng Webquest trong dạy học. Phương pháp này được tiếp tục phát triển bởi Tom March (Úc) và Heinz Moser (Thụy Sĩ).

Bernie Dodge nhận thấy rằng Internet ngày càng phổ biến và việc thu thập, xử lý thông tin trên mạng là một kỹ năng cần thiết trong nghiên cứu, học tập cũng như trong hầu hết các ngành nghề. Tuy nhiên, việc truy cập thông tin một cách tự do trên mạng để đáp ứng yêu cầu trong dạy học của HS có những hạn chế như mất nhiều thời gian để tìm kiếm thông tin có chất lượng, HS dễ bị chệch hướng khỏi đề tài do lượng thông tin quá nhiều. Để khắc phục nhược điểm, ông đã đề ra phương pháp webquest và ý tưởng về WebQuest. Đồng hành cùng với ông là Tom March - cũng là giảng viên tại trường đại học San Diego State.

Cả hai ông cùng nhau tạo ra những WebQuest và cùng tiến hành thực nghiệm với các sinh viên (SV), cải tiến phương pháp, khắc phục những nhược điểm. Kể từ khi ra đời, WebQuest đã nhanh chóng trở thành một làn sóng phát triển mạnh mẽ trên khắp thế giới, đặc biệt Brazil, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Australia, Hà Lan, Mỹ là những nước rất quan tâm và phát triển mạnh phương pháp này. Bernie Dodge cũng đã tạo một trang web riêng (WebQuest.org) nhằm giới thiệu phương pháp webquest và cho phép mọi người tạo ra các WebQuest miễn phí tại đây. Sau đó, Tom March nhận thấy rằng, việc GV xây dựng một WebQuest chất lượng tốn rất nhiều thời gian và công sức trong khi việc dạy học phải đảm bảo sự liên tục.

Thấu hiểu điều trên, ông đã lập ra một trang web gọi là “BestWebQuest.com”, tập hợp tất cả những WebQuest trên thế giới và ông phân ra theo lĩnh vực, GV có thể vào đây chia sẻ và sử dụng các WebQuest như là một nguồn tài nguyên chung. Các WebQuest đã được ông cùng các cộng sự kiểm tra về mặt nội dung để đảm bảo HS sẽ phát triển được các mức tư duy theo thang phân loại của Bloom. Một đại diện khác của WebQuest nữa mà nếu không nhắc đến ông có lẽ là một thiếu sót lớn, đó chính là Heinz Moser (Thụy Sĩ). Ông là một giáo sư về giáo dục truyền thông tại Đại học Zurich và là giáo sư danh dự của ngành giáo dục và nghiên cứu tại Đại học Kassel.

Bernie Dodge và Tom March sáng tạo ra phương pháp webquest nhưng các ông chỉ dừng lại việc xây dựng các WebQuest cho từng bài riêng Luan van biệt, một chủ đề riêng mang tính lịch sử hoặc tính thời sự. Đến Heinz Moser, ông đã đưa ra thêm một ý tưởng nữa vào năm 2000, đó chính là việc áp dụng WebQuest cho nhiều bài trong cùng một chương, nhiều chương liên tiếp theo cách học xoắn ốc nhằm phát triển tri thức một cách vừa củng cố vừa liên tục. Cuốn sách “Abenteuer Internet: Lernen mit WebQuests” có nội dung gồm những hiểu biết và khái niệm về WebQuest do Heinz Moser biên soạn được tiếp nhận nồng nhiệt tại Đức. Riêng ở Việt Nam, khái niệm WebQuest cũng theo trào lưu du nhập vào nước ta từ khoảng 2007.

Có một số GV và một vài khóa luận đề cập đến phương pháp webquest. Điển hình như các thầy cô trong nhóm thành viên của VVOB Việt Nam đã đưa vào trang web của mình một chuyên mục giới thiệu về WebQuest. Các chị Trần Thị Tuyết Nhung, Phạm Thị Nhạn lớp CH K20 - SPKT trường đại học Sư Phạm Hà Nội cũng thiết kế riêng một trang web (music.com) giới thiệu khá đầy đủ và có kèm ví dụ về WebQuest. Ngoài ra còn có một vài khóa luận cũng nghiên cứu về WebQuest: - Vận dụng kỹ thuật WebQuest vào dạy học chương “Động lực học chất điểm” vật lý 10 THPT, khóa luận tốt nghiệp (khuyết danh).

- Nguyễn Thị Thu Chi (2007), Sử dụng WebQuest trong dạy học Lịch sử lớp 11 ở trường THPT”, khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội. Đặc biệt, có một số giảng viên đại học đã áp dụng phương pháp webquest vào dạy học trên đối tượng SV và thu được những kết quả nhất định [6]. Kết quả các nghiên cứu đã cho thấy rằng phương pháp này ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của nhà giáo dục. Tuy nhiên, nó vẫn còn mới mẻ và chưa có sự phát triển rộng rãi ở Việt Nam.

Các tác giả trên đều giới thiệu về phương pháp WebQuest, nêu được những ưu điểm của phương này cũng như cách thức và công cụ để tạo nên một WebQuest nhưng chưa tác giả nào tạo được một WebQuest một cách hoàn chỉnh, hoặc có tác giả đã tạo được nhưng lại chỉ lưu hành nội bộ. Và một điều đặc biệt là các tác giả tạo WebQuest từ các phần mềm Microsoft Word, PowerPoint hay trên công cụ xây dựng web: Microsoft Frontpage. Nếu dùng Word, PowerPoint thì không mô tả hết tinh thần của WebQuest, còn dùng Frontpage thì đòi hỏi người thiết kế phải biết ngôn ngữ HTLM, rất khó khăn và tương đối phức tạp. Nếu tìm trên mạng một WebQuest thì rất Luan van nhiều nhưng một WebQuest bằng tiếng Việt hoàn chỉnh thì hầu như không có, nhất là trong lĩnh vực hóa học.

Tổng quan về việc ứng dụng ICT trong dạy học hóa học ở trường THPT 1. Thực trạng về việc ứng dụng ICT trong giáo dục ở Việt Nam Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) là một “tập hợp đa dạng các công cụ và tài nguyên công nghệ được sử dụng để giao tiếp, tạo ra, phổ biến, lưu giữ và quản lý thông tin” [30].Các công nghệ này bao gồm phần cứng và mạng máy tính, các phần mềm cần thiết, Internet, công nghệ truyền thông (đài và vô tuyến) và điện thoại. Thuật ngữ ICT ra đời vào năm 1997, trong một báo cáo của Dennis Stevenson gửi chính phủ Anh và được lan truyền rộng rãi trong các tài liệu mới của chương trình giảng dạy của quốc gia Anh vào năm 2000. Riêng CNTT - đặc biệt là Internet, bắt đầu được sử dụng ở Hoa Kỳ vào năm 1995 và sau đó được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới.

Ngày nay, thật khó có thể hình dung được thế giới của chúng ta sẽ như thế nào nếu như không có các ứng dụng CNTT. Nhiều chương trình đào tạo ở các trường đại học và phổ thông của các nước có nền giáo dục tiên tiến từ lâu đã sử dụng những chức năng của công nghệ vào trong giảng dạy. Đổi mới PPDH bằng CNTT cũng là một chủ đề lớn được UNESCO đưa ra thành chương trình của thế kỷ XXI và dự đoán sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của CNTT. Ở nước ta, năm học 2008 – 2009 là năm học đầu tiên triển khai thực hiện Chỉ thị số 55/2008/CT - BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008 – 2012.

Năm học 2008 – 2009 được chọn là “Năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT, đổi mới quản lý tài chính và xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực”, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu rõ: - Tổ chức tốt việc dạy học Tin học ở các cấp học, bậc học, ngành học nhằm phổ cập Tin học trong nhà trường. - Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong Giáo dục và Đào tạo ở các cấp học, bậc học, theo hướng sử dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở các môn học. Luan van Qua tham khảo các tài liệu [3],[28], tính đến năm 2009, đã có 20% GV trung học, 30% trường THPT, 25% trường THCS ứng dụng CNTT. Trong đó, từ 2–5% số bài giảng được sử dụng phần mềm dạy học và có ứng dụng CNTT.

Ứng dụng CNTT trong giảng dạy, không chỉ phát triển mạnh ở các thành phố lớn mà còn phát triển ở nhiều xã vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn đã góp phần đẩy nhanh tiến trình công bằng trong giáo dục. Với sự trợ giúp của CNTT, việc dạy và học đã mang lại hiệu quả thiết thực, nhất là các môn xã hội cho những vùng ít có cơ hội tiếp cận với các nguồn thông tin. Hiện nay các trường phổ thông điều trang bị phòng máy, phòng đa năng, nối mạng Internet và Tin học được giảng dạy chính thức. Một số trường còn trang bị thêm thiết bị ghi âm, chụp hình, quay phim (Sound Recorder, Camera, Camcorder), máy quét hình (Scanner), và một số thiết bị khác, tạo cơ sở hạ tầng CNTT cho GV sử dụng vào quá trình dạy học của mình.

Công nghệ phần mềm phát triển mạnh, đặc biệt là các phần mềm mã nguồn mở phục vụ cho giáo dục cũng đạt được những thành tựu đáng kể: Phần mềm văn phòng (OpenOffice.org), thư viện số (Emilda, phpmylibrary, Koha, OpenBiblio), quản lý mạng lớp học (Mythware, i–Talc của Intel),… ngoài ra còn có hệ thống quản lý E- learning (Moodle, Dokeos) và các phần mền đóng gói, tiện ích khác. Qua tìm hiểu, việc ứng dụng CNTT vào dạy học ở nước ta trong những năm vừa qua đã có những ưu điểm và hạn chế nhất định.[24]  Ưu điểm - Môi trường đa phương tiện kết hợp những hình ảnh đoạn phim, ảnh chụp trên máy quay… với âm thanh, văn bản, biểu đồ… được trình bày qua máy tính theo giáo án vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan. - Các phần mềm và công cụ có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội con người mà không thể hoặc không nên để xảy ra trong điều kiện nhà trường. - Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con người, thực hiện những công việc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên những lĩnh vực khác nhau.

- Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau và với người sử dụng qua những mạng máy tính kể cả Internet… có thể được khai thác để tạo Luan van nên những điều kiện cực kì thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu để HS học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu. - Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh chữ, âm thanh sống động làm cho HS dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý, HS có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới. Đây là một công dụng lớn của ICT trong quá trình đổi mới PPDH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ mang tiêu đề "Vận dụng phương pháp WebQuest trong dạy học nhóm Oxi hóa học lớp 10" của tác giả Nguyễn Thị Kim Thoa, dưới sự hướng dẫn của ThS. Thái Hoài Minh, được thực hiện tại Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu này tập trung vào việc áp dụng phương pháp WebQuest để nâng cao hiệu quả dạy học nhóm trong môn Hóa học, đặc biệt là phần Oxi cho học sinh lớp 10. Phương pháp này không chỉ giúp học sinh phát triển kỹ năng tự học mà còn khuyến khích sự hợp tác và tương tác giữa các thành viên trong nhóm, từ đó nâng cao chất lượng học tập.

Để mở rộng thêm kiến thức về dạy học Hóa học, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ về nội dung và chương chuyên đề trong dạy học hóa học lớp 10 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018", nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về nội dung giảng dạy trong chương trình Hóa học lớp 10. Bên cạnh đó, bài viết "Luận văn: Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học nhằm nâng cao chất lượng dạy học phần phi kim lớp 10 trung học phổ thông" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp nâng cao chất lượng dạy học trong môn Hóa học. Cuối cùng, bài viết "Luận văn tốt nghiệp: Hệ thống bài tập hóa học phân hóa chương oxi lưu huỳnh lớp 10" cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn khám phá cách phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua các bài tập cụ thể. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn nhiều góc nhìn và kiến thức bổ ích trong lĩnh vực dạy học Hóa học.