Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống sông Đáy – Hoàng Long là mạng lưới thủy văn trọng yếu thuộc vùng hạ lưu châu thổ sông Hồng, bao phủ diện tích tự nhiên 7.665 km² của sông Đáy và 1.515 km² của sông Hoàng Long. Khu vực này là nơi sinh sống và phát triển kinh tế của hơn 10 triệu dân cư trên địa bàn 5 tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định và Hòa Bình. Dưới tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu, các hiện tượng thời tiết cực đoan và thiên tai lũ lụt trong lưu vực diễn biến ngày càng phức tạp. Điển hình trong đợt mưa lũ lịch sử tháng 10 năm 2017, lượng mưa tích lũy tại Phủ Lý đạt 356,4 mm, khiến mực nước sông Đáy dâng cao tới 4,93 m (vượt báo động 3 là 0,83 m), đe dọa nghiêm trọng hệ thống đê điều và đời sống dân sinh.

Trước đây, công tác nghiệp vụ tại Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Hà Nam và Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Ninh Bình chủ yếu dựa trên các phương pháp thống kê tương quan và xu thế mực nước đơn biến. Các phương án này bộc lộ nhược điểm lớn khi chỉ áp dụng tốt trong điều kiện lũ lên xuống đều, mức bảo đảm dự báo chỉ dao động từ 62% đến 75%, không thể hiện được tính đột biến khi có sự kết hợp của tổ hợp thời tiết bất thường, lũ thượng nguồn và triều cường.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là ứng dụng chuỗi mô hình số trị MIKE11 (kết hợp mô-đun thủy văn NAM và mô-đun thủy lực HD) để mô phỏng chính xác dòng chảy lũ, xây dựng phương án dự báo nghiệp vụ mực nước lũ tại hai trạm trọng điểm Phủ Lý (sông Đáy) và Gián Khẩu (sông Hoàng Long) với thời gian dự kiến từ 12 đến 24 giờ. Nghiên cứu thực hiện trên phạm vi toàn bộ lưu vực với chiều dài dòng chính hơn 250 km, khai thác chuỗi số liệu quan trắc 50 năm (1961 - 2010) và dữ liệu các trận lũ lớn giai đoạn 2000 - 2018. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn, trực tiếp phục vụ phân cấp dự báo theo Quyết định số 392/QĐ-KTTVQG và Quyết định số 46/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nâng mức bảo đảm dự báo đạt trên 80%, góp phần giảm thiểu rủi ro thiên tai và bảo vệ an toàn kinh tế - xã hội địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng tổ hợp hai mô hình cốt lõi do Viện Thủy lực Đan Mạch phát triển: mô hình mưa – dòng chảy MIKE-NAM và mô hình thủy động lực một chiều MIKE11 HD.

Mô hình NAM là dạng mô hình thủy văn thông số tập trung, mô tả chu trình nước trong tự nhiên thông qua hệ thống 5 bể chứa thẳng đứng liên hoàn:

  • Bể chứa tuyết tan (được bỏ qua do đặc thù khí hậu nhiệt đới Việt Nam).
  • Bể chứa bề mặt với lượng trữ ẩm cực đại Umax (dao động từ 10 mm đến 25 mm), kiểm soát dòng chảy tràn và lượng nước chặn giữ của thảm phủ thực vật.
  • Bể chứa tầng rễ cây với giới hạn ẩm Lmax (dao động từ 100 mm đến 300 mm), quyết định lượng bốc thoát hơi nước thực tế Ea và lượng nước ngấm xuống tầng sâu.
  • Hai bể chứa nước ngầm tầng trên và tầng dưới hoạt động như các hồ chứa tuyến tính, điều tiết dòng chảy ngầm và duy trì dòng chảy kiệt.

Mô hình thủy lực MIKE11 HD vận hành dựa trên hệ phương trình vi phân đạo hàm riêng phi tuyến Saint-Venant gồm phương trình liên tục và phương trình bảo toàn động lượng một chiều:

  • Phương trình liên tục: Đạo hàm riêng của lưu lượng Q theo không gian x cộng với đạo hàm riêng của diện tích mặt cắt ướt A theo thời gian t bằng lưu lượng gia nhập khu giữa q.
  • Phương trình động lượng: Mô tả sự cân bằng giữa gia tốc dòng chảy, độ dốc mặt nước, trọng lực và lực ma sát đáy được biểu diễn qua hệ số nhám Manning n hoặc hệ số Chezy C.
  • Sơ đồ sai phân 6 điểm ẩn Abbott-Ionescu: Phương pháp số giải hệ phương trình Saint-Venant trên lưới điểm xen kẽ giữa lưu lượng (Q) và mực nước (h), bảo đảm tính ổn định và hội tụ cao đối với dòng chảy không ổn định.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn cơ sở dữ liệu quan trắc khí tượng thủy văn được thu thập đồng bộ trên chuỗi thời gian 50 năm (1961 - 2010) từ 12 trạm khí tượng tiêu biểu (Láng, Hà Đông, Hòa Bình, Kim Bôi, Chi Nê, Nho Quan, Ninh Bình, Hà Nam...) và 8 trạm thủy văn chính (Ba Thá, Phủ Lý, Hưng Thi, Bến Đế, Gián Khẩu, Ninh Bình, Như Tân, Nam Định). Dữ liệu hình học lòng dẫn bao gồm 52 nhánh sông chính với hệ thống hàng trăm mặt cắt ngang được cập nhật chi tiết.

Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích được áp dụng để lựa chọn các trận lũ lịch sử điển hình có biên độ lớn và hình thế thời tiết phức tạp: các trận lũ năm 2000 và 2017 được sử dụng cho giai đoạn hiệu chỉnh mô hình; các trận lũ năm 2001, 2003 và 2010 dùng cho giai đoạn kiểm định; đợt lũ tháng 7 năm 2018 (với chuỗi 20 ngày dự báo liên tục) dùng để thử nghiệm nghiệp vụ.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích số trị MIKE11 thay vì các mô hình thống kê truyền thống xuất phát từ đặc điểm thủy lực phức tạp của lưu vực: dòng chảy chịu sự tác động đồng thời của lũ rừng ngang thượng lưu Hòa Bình, dòng phân lũ từ sông Hồng qua sông Đào Nam Định với lưu lượng chuyển tải hàng năm khoảng 20 tỷ m³ nước, và hiện tượng triều dềnh từ vịnh Bắc Bộ truyền sâu vào nội địa từ 50 km đến 150 km. Chỉ có mô hình thủy động lực một chiều Saint-Venant mới có thể tái hiện chính xác các tương tác thủy lực phi tuyến và hiện tượng nước dâng này.

Timeline nghiên cứu được triển khai chặt chẽ qua các bước: tiền xử lý số liệu mưa bình quân theo 12 tiểu lưu vực, hiệu chỉnh tự động và thủ công bộ thông số NAM, thiết lập sơ đồ mạng lưới thủy lực, kiểm tra độ nhạy của hệ số nhám và đánh giá sai số theo quy chuẩn ngành khí tượng thủy văn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình nghiên cứu và mô phỏng thực nghiệm đã đem lại các phát hiện khoa học mang tính đột phá:

Thứ nhất, mô hình MIKE-NAM đạt độ chính xác rất cao trong việc chuyển đổi mưa thành dòng chảy tại các trạm biên trên. Kết quả hiệu chỉnh với các trận lũ năm 2000 và 2017 cho hệ số Nash-Sutcliffe (NASH) đạt từ 0,82 đến 0,89 tại trạm Ba Thá (sông Đáy) và trạm Hưng Thi (sông Hoàng Long). Trong giai đoạn kiểm định với các trận lũ năm 2001 và 2010, hệ số NASH duy trì ổn định từ 0,78 đến 0,85. Sai số tổng lượng dòng chảy lũ luôn dưới 8,5%, và sai số lưu lượng đỉnh lũ dao động trong ngưỡng 5% đến 11%.

Thứ hai, mô hình thủy lực MIKE11 HD mô phỏng chính xác biên độ và đường quá trình mực nước lũ tại hai vị trí trọng yếu Phủ Lý và Gián Khẩu. Trong trận lũ lịch sử tháng 10 năm 2017, mực nước đỉnh thực đo tại Phủ Lý đạt 4,93 m, giá trị mô phỏng đạt 4,99 m, sai số tuyệt đối chỉ 6 cm (tương đương sai số tương đối 1,2%), hệ số tương quan Nash đạt 0,91 tại Phủ Lý và 0,88 tại Gián Khẩu. Trong giai đoạn kiểm định các năm 2003 và 2010, sai số đỉnh lũ luôn nhỏ hơn 12 cm, sai số thời gian xuất hiện đỉnh lũ chênh lệch không quá 1 đến 2 giờ.

Thứ ba, nghiên cứu xác lập được bộ thông số nhám Manning n thực nghiệm tối ưu cho hệ thống sông: lòng sông chính có hệ số nhám dao động từ 0,028 đến 0,035; bãi tràn ngập lũ có hệ số nhám từ 0,040 đến 0,055. Đồng thời, thời gian truyền lũ trung bình từ Hưng Thi về Bến Đế được định lượng chính xác là 17,5 giờ và từ Ba Thá về Phủ Lý là 10,1 giờ.

Thứ tư, kết quả dự báo thử nghiệm trong đợt lũ từ ngày 16/7/2018 đến 04/8/2018 (20 lần phát bản tin dự báo liên tục với bước thời gian 12 - 24 giờ) cho thấy mức bảo đảm dự báo đỉnh lũ đạt 85,0% tại trạm Phủ Lý và 80,0% tại trạm Gián Khẩu. Mức độ tin cậy này vượt trội hoàn toàn so với mức 62% của phương pháp ngoại suy xu thế cũ.

Thảo luận kết quả

Các kết quả mô phỏng được thể hiện trực quan thông qua hệ thống biểu đồ so sánh đường quá trình mực nước thực đo và tính toán theo bước thời gian từng giờ, cùng các bảng tổng hợp chỉ số thống kê sai số (NASH, sai số mực nước đỉnh Delta H, sai số thời gian Delta T). Việc trình bày dữ liệu dạng đồ thị đường kép giúp các dự báo viên theo dõi trực tiếp thời điểm lũ lên nhanh (cường suất lũ lớn nhất đạt 21 cm/giờ tại Bến Đế và 14 cm/giờ tại Phủ Lý), qua đó nhận diện rõ ràng thời điểm xuất hiện đỉnh lũ để kịp thời cảnh báo.

Nguyên nhân chính dẫn đến sai số cục bộ ở một số thời đoạn là do sự phân bố mưa không đồng đều giữa các tiểu lưu vực vùng núi và hiện tượng bồi lắng, cản trở thoát lũ do hoạt động bồi lấp lòng sông ở vùng hạ lưu. So sánh với các nghiên cứu trước đây trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình (từng sử dụng 792 mặt cắt), mô hình ứng dụng cho hệ thống Đáy – Hoàng Long đã giải quyết xuất sắc bài toán biên triều vịnh Bắc Bộ (với biên độ dao động từ 120 cm đến 300 cm), hạn chế triệt để tính chủ quan của dự báo viên và nâng cao chất lượng bản tin cảnh báo sớm thêm từ 6 đến 12 giờ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy tối đa giá trị thực tiễn của đề tài, 4 nhóm giải pháp trọng tâm được kiến nghị thực hiện:

  1. Tích hợp chuẩn hóa mô hình MIKE11 vào quy trình tác nghiệp thường trực: Tổng cục Khí tượng Thủy văn chỉ đạo Đài Khí tượng Thủy văn khu vực đồng bằng Bắc Bộ cùng hai Đài KTTV tỉnh Hà Nam và Ninh Bình đưa bộ công cụ MIKE11 vào vận hành chính thức trong giai đoạn 2024 - 2026, phấn đấu duy trì tỷ lệ dự báo đạt chuẩn nghiệp vụ trên 85% và bảo đảm thời gian dự kiến phát tin trước 24 giờ.
  2. Tăng cường mật độ mạng lưới quan trắc mưa tự động: Ủy ban nhân dân các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Hòa Bình phối hợp cùng Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt lắp đặt bổ sung 25 trạm đo mưa tự động tại các khu vực sườn đón gió và thượng nguồn sông Bôi, sông Tích trong giai đoạn 2025 - 2027, nhằm giảm sai số tính toán mưa bình quân lưu vực xuống dưới 5%.
  3. Định kỳ đo đạc và cập nhật biến động địa hình lòng dẫn: Chi cục Thủy lợi và Quản lý Đê điều các địa phương tổ chức đo đạc lại toàn bộ 52 tuyến mặt cắt ngang sông Đáy và sông Hoàng Long với tần suất 3 năm một lần (bắt đầu từ quý IV/2024 đến năm 2027), giúp cập nhật kịp thời hiện tượng xói lở, bồi lắng và tái hiệu chỉnh hệ số nhám n trong mô hình thủy lực.
  4. Xây dựng hệ thống hỗ trợ ra quyết định và cảnh báo ngập lụt tự động: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Nam và Ninh Bình phối hợp các đơn vị công nghệ xây dựng nền tảng WebGIS cảnh báo ngập lụt thời gian thực giai đoạn 2025 - 2028, tự động chuyển tải thông tin cảnh báo ngập lụt tới hơn 500.000 người dân vùng trũng thấp trong vòng 15 phút sau khi mô hình hoàn tất tính toán.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Dự báo viên tại các Đài Khí tượng Thủy văn khu vực và cấp tỉnh: Nắm vững quy trình thiết lập, hiệu chỉnh thông số mô hình NAM và MIKE11 HD để ứng dụng trực tiếp vào công tác ban hành bản tin dự báo lũ hàng ngày, nâng cao độ chính xác tại các vị trí xung yếu Phủ Lý và Gián Khẩu.
  2. Cán bộ quản lý đê điều và Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai cấp tỉnh, huyện: Sử dụng các kịch bản mô phỏng ngập lụt và mốc thời gian truyền lũ (10,1 giờ từ Ba Thá về Phủ Lý; 17,5 giờ từ Hưng Thi về Bến Đế) để chủ động lập phương án hộ đê, vận hành cống phân lũ Lạc Khoái và sơ tán dân cư an toàn.
  3. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Thủy văn, Tài nguyên nước, Biến đổi khí hậu: Tiếp cận tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp số, kỹ thuật giải hệ phương trình Saint-Venant bằng sơ đồ ẩn Abbott-Ionescu và kinh nghiệm xử lý biên thủy triều phức tạp trên lưu vực đồng bằng.
  4. Các tổ chức tư vấn quy hoạch hạ tầng xây dựng, giao thông và nông nghiệp: Khai thác chuỗi số liệu mực nước đỉnh lũ lịch sử (mức 4,93 m tại Phủ Lý) để tính toán khẩu độ thoát nước cầu cống, xác định cao trình đê bao và thiết kế các công trình tiêu thoát nước trên diện tích 9.180 km² thuộc lưu vực.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình MIKE11 mang lại ưu thế gì vượt trội so với các phương pháp thống kê truyền thống? Phương pháp thống kê cũ chỉ đạt mức bảo đảm từ 62% đến 75% và phụ thuộc vào cảm tính khi lũ lên xuống bất thường. Ngược lại, MIKE11 giải toán thủy động lực học Saint-Venant kết hợp mô hình mưa NAM, mô phỏng chuẩn xác các kịch bản lũ cực đoan và tương tác lũ - triều với độ chính xác trên 85%, mở rộng thời gian dự báo đến 24 giờ.

Thời gian truyền lũ trên hệ thống sông Đáy – Hoàng Long mất bao lâu? Theo số liệu quan trắc thực nghiệm, thời gian truyền lũ trung bình từ trạm Hưng Thi về Bến Đế trên sông Hoàng Long là 17,5 giờ (dao động từ 6 đến 42 giờ tùy cường độ mưa). Trên sông Đáy, thời gian truyền sóng lũ từ trạm Ba Thá về Phủ Lý trung bình đạt khoảng 10,1 giờ.

Mô hình xử lý tác động của thủy triều vịnh Bắc Bộ tại cửa sông như thế nào? Chế độ thủy triều tại cửa Đáy là nhật triều không thuần nhất với biên độ từ 120 cm đến 300 cm, truyền sâu 50 - 100 km trong mùa lũ. MIKE11 sử dụng chuỗi mực nước thực đo tại trạm hải văn làm điều kiện biên dưới, giúp tái hiện chính xác hiện tượng nước dềnh cản lũ và biến dạng sóng lũ.

Bộ thông số mô hình mưa – dòng chảy NAM được hiệu chỉnh ra sao? Các thông số bề mặt và nước ngầm (Umax, Lmax, CQOF, CKIF, CK1,2) được xác định thông qua phương pháp hiệu chỉnh tự động kết hợp thử sai dựa trên chuỗi số liệu mưa và dòng chảy thực đo các trận lũ 2000, 2017, đạt chỉ số Nash-Sutcliffe từ 0,78 đến 0,89 tại Ba Thá và Hưng Thi.

Kết quả dự báo thử nghiệm thực tế trong mùa lũ đạt độ tin cậy như thế nào? Trong đợt thử nghiệm tháng 7 năm 2018 với 20 đợt phát bản tin liên tục, sai số mực nước đỉnh lũ tại Phủ Lý và Gián Khẩu đều nằm trong phạm vi cho phép dưới 15 - 20 cm. Tỷ lệ dự báo đạt tiêu chuẩn nghiệp vụ đạt 85,0% tại Phủ Lý và 80,0% tại Gián Khẩu, đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Kết luận

  • Xây dựng thành công chuỗi mô hình số trị tích hợp MIKE-NAM và MIKE11 HD mô phỏng toàn diện chế độ dòng chảy lũ trên lưu vực sông Đáy – Hoàng Long rộng 9.180 km².
  • Chuẩn hóa bộ thông số thủy lực với hệ số nhám Manning n từ 0,028 đến 0,055 và các thông số ẩm đất cho 12 tiểu lưu vực, đạt hệ số tương quan Nash-Sutcliffe trên 0,85.
  • Thiết lập hoàn chỉnh phương án dự báo nghiệp vụ mực nước lũ tại trạm Phủ Lý và trạm Gián Khẩu với thời gian dự kiến từ 12 đến 24 giờ, nâng mức bảo đảm dự báo lên 80% - 85%.
  • Cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác phục vụ công tác phân cấp trách nhiệm dự báo theo Quyết định số 392/QĐ-KTTVQG và Quyết định số 46/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
  • Đề ra lộ trình cụ thể giai đoạn 2024 - 2026 nhằm tự động hóa quy trình dự báo thời gian thực, kết hợp bổ sung 25 trạm đo mưa tự động để tối ưu hóa hiệu quả phòng tránh thiên tai.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã làm chủ công nghệ mô hình hóa hiện đại, giải quyết triệt để bài toán dự báo lũ tại các sông đồng bằng chịu ảnh hưởng triều và phân lũ phức tạp. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu hãy ứng dụng ngay kết quả nghiên cứu này vào công tác quản trị rủi ro thiên tai để kiến tạo một tương lai an toàn, phát triển bền vững cho lưu vực sông Đáy – Hoàng Long.