Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, tài chính và đô thị lớn nhất cả nước với tổng diện tích tự nhiên 2.095 km2 và quy mô dân số đạt 8.441 nghìn người vào năm 2016. Quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ rất nhanh, mở rộng không gian đô thị từ 86,2 km2 năm 1990 lên 351,1 km2 năm 2010. Tuy nhiên, đặc điểm địa hình có tới gần 60% diện tích nằm dưới cao trình 1,5m so với mực nước biển khiến thành phố thường xuyên đối mặt với hiểm họa ngập úng. Nằm ở vị trí trung tâm hạt nhân, Quận 1 có diện tích 7,71 km2, mật độ dân số vượt mức 25.654 người/km2 và là đầu mối giao thương, dịch vụ quan trọng bậc nhất. Mặc dù địa hình tương đối cao từ 2m đến 6m so với vùng ven, Quận 1 vẫn ghi nhận nhiều điểm ngập úng nghiêm trọng khi xuất hiện các trận mưa lớn kết hợp triều cường sông Sài Gòn.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là đánh giá định lượng tác động của biến đổi khí hậu đến tình trạng ngập lụt tại Quận 1, nơi mà quy hoạch thoát nước hiện hữu theo Quyết định 752/QĐ-TTg bộc lộ nhiều điểm nghẽn trước các hình thái thời tiết cực đoan. Mục tiêu cụ thể là xây dựng chuỗi kịch bản mưa và triều cường theo các kịch bản phát thải RCP4.5 và RCP8.5, ứng dụng bộ mô hình thủy lực số trị tiên tiến để mô phỏng mức độ ngập lụt, từ đó thành lập bản đồ ngập lụt chi tiết và đề xuất giải pháp kiểm soát ngập bền vững. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ địa bàn 10 phường thuộc Quận 1 với chuỗi số liệu nền năm 2016 và định hướng kịch bản đến năm 2030. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp các chỉ số định lượng về độ sâu ngập từ 0,1m đến 0,5m và thời gian ngập úng, tạo cơ sở khoa học giúp giảm thiểu tổn thất kinh tế hàng trăm tỷ đồng cho khu vực trung tâm thành phố.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết thủy văn đô thị hiện đại và lý thuyết thủy động lực học một chiều, hai chiều (1D-2D). Trong thủy văn đô thị, quá trình hình thành dòng chảy tràn bề mặt được xác định qua phương pháp quan hệ Thời gian - Diện tích (Time - Area Method) nhằm mô tả sự tập trung dòng chảy nước mưa từ các tiểu lưu vực vào từng hố ga thu nước. Lý thuyết dòng chảy phi tuyến trong mạng lưới thoát nước có áp và không áp được thiết lập dựa trên hệ phương trình Saint-Venant một chiều, giải quyết bài toán biến đổi mực nước và lưu lượng trong cống ngầm.

Khung mô hình nghiên cứu kết hợp ba trụ cột chính: mô hình thủy lực sông ngòi MIKE 11 HD mô phỏng dao động triều và lan truyền sóng lũ trên sông Sài Gòn, kênh Bến Nghé và rạch Thị Nghè; mô hình MIKE URBAN (MOUSE) mô phỏng dòng chảy thủy lực trong mạng lưới đường ống ngầm và hố ga đô thị; và mô hình MIKE 21 mô phỏng dòng tràn hai chiều trên bề mặt địa hình. Các khái niệm cốt lõi được vận dụng bao gồm: kịch bản biến đổi khí hậu đại diện cho nồng độ khí nhà kính (RCP4.5 phát thải trung bình và RCP8.5 phát thải cao), đường cong quan hệ Cường độ - Thời đoạn - Tần suất mưa (đường IDF), cốt nền xây dựng đô thị và cao trình đỉnh triều cực trị.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng cơ sở dữ liệu quan trắc khí tượng thủy văn dài hạn và dữ liệu hạ tầng đô thị chi tiết. Cỡ mẫu dữ liệu khí tượng gồm chuỗi số liệu mưa thời đoạn ngắn 36 năm liên tục (giai đoạn 1980-2016) tại trạm Cầu Bông, trạm Tân Sơn Hòa và Mạc Đĩnh Chi. Dữ liệu thủy văn bao gồm chuỗi mực nước thực đo 31 năm (giai đoạn 1986-2017) tại trạm Phú An trên sông Sài Gòn và trạm Nhà Bè. Về hạ tầng kỹ thuật, nghiên cứu số hóa toàn bộ hệ thống thoát nước Quận 1 gồm hàng trăm tuyến cống tròn, cống hộp và hàng ngàn hố ga thu nước, kết hợp mô hình số độ cao DEM và dữ liệu quét laser mặt đất LiDAR độ phân giải cao.

Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu tuân thủ nguyên tắc chọn mẫu sự kiện cực đoan đại biểu. Tác giả lựa chọn trận mưa lịch sử ngày 26/09/2016 với tổng lượng mưa 132 mm tại trạm Cầu Bông và 204,3 mm tại trạm Mạc Đĩnh Chi trong 3 giờ, cùng trận mưa ngày 15/09/2015 để làm mẫu chuẩn phục vụ hiệu chỉnh và kiểm định mô hình. Lý do lựa chọn bộ mô hình MIKE (MIKE 11, MIKE 21, MIKE URBAN liên kết qua MIKE FLOOD) kết hợp phần mềm ArcGIS vì đây là công cụ số trị có độ chính xác cao nhất hiện nay trong việc giải quyết đồng thời bài toán ngập do mưa nội vùng, cống quá tải và triều dâng ngoài sông. Toàn bộ quy trình phân tích được thực hiện từ việc xử lý số liệu quan trắc 1980-2017, hiệu chỉnh hiện trạng 2016 và ngoại suy tính toán cho kịch bản đến năm 2030.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, phân tích chuỗi số liệu khí tượng lịch sử 1980-2016 cho thấy xu thế gia tăng rõ rệt của các trận mưa cực đoan thời đoạn ngắn. Trận mưa lịch sử ngày 26/09/2016 đạt vũ lượng 132 mm trong 3 giờ tại trạm Cầu Bông và lên tới 204,3 mm tại trạm Mạc Đĩnh Chi, vượt xa năng lực thiết kế cống cấp 2 theo Quyết định 752/QĐ-TTg (vốn chỉ tính toán cho lượng mưa 137,7 mm trong 90 phút ứng với chu kỳ 100 năm).

Thứ hai, mực nước triều cường trên sông Sài Gòn có xu hướng dâng cao vượt ngưỡng lịch sử. Số liệu tại trạm Phú An và Nhà Bè cho thấy đỉnh triều cao nhất năm 2016 đạt lần lượt 1,67m và 1,69m; đến năm 2017 tiếp tục tăng lên 1,71m và 1,72m. Trong giai đoạn 2012-2017, thành phố ghi nhận tới 85 lần triều cường vượt mức báo động 3 (+1,50m), tăng gấp hơn 3 lần so với giai đoạn 2008-2011 (chỉ có 25 lần). Điều này vượt xa mực nước triều thiết kế 1,32m của hệ thống thoát nước hiện hữu.

Thứ ba, kết quả mô phỏng theo các kịch bản biến đổi khí hậu RCP4.5 và RCP8.5 giai đoạn đầu thế kỷ đến năm 2030 chỉ ra rằng cường độ mưa thiết kế chu kỳ 10 năm gia tăng từ 12% đến 18% so với thời kỳ cơ sở. Khi kết hợp với triều cường dâng cao, mức độ ngập tại các vùng trũng thấp như các tuyến đường Mai Thị Lựu, Cống Quỳnh, Nguyễn Cư Trinh, Trần Hưng Đạo và Nguyễn Văn Cừ có độ sâu ngập phổ biến từ 0,20m đến 0,50m, thời gian ngập kéo dài từ 45 phút đến hơn 90 phút sau khi dứt mưa.

Thứ tư, nghiên cứu phát hiện sự suy giảm nghiêm trọng khả năng thoát nước tự nhiên khi tỷ lệ bê tông hóa tại Quận 1 đạt trên 75%, đẩy hệ số không thấm nước mặt đệm lên mức 0,80 - 0,90. Lưu lượng dòng chảy mặt tập trung vào hệ thống cống chỉ sau 15 đến 20 phút mưa, khiến 100% các tuyến cống nhánh tại phường Cô Giang, Cầu Kho và Đa Kao rơi vào trạng thái quá tải áp lực.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân gốc rễ gây ngập lụt tại Quận 1 là sự cộng hưởng bất lợi giữa ba yếu tố: biến đổi khí hậu làm tăng tần suất mưa cực đoan, mực nước triều sông Sài Gòn thường xuyên cao hơn cao trình cửa xả cống, và quá trình đô thị hóa làm triệt tiêu khả năng thấm tự nhiên. Khi triều dâng trên 1,50m, toàn bộ các cửa xả tự chảy ra kênh Bến Nghé và rạch Thị Nghè bị ngập sâu, tạo áp lực nước dội ngược khiến nước mưa không thể thoát ra ngoài sông.

So sánh với các công trình trước đây, kết quả luận văn có sự thống nhất cao khi khẳng định ngập nội đô chủ yếu do mưa vượt tải cống cục bộ chứ không hoàn toàn do địa hình. Tuy nhiên, luận văn đã phát triển bước tiến mới bằng việc mô hình hóa không gian 2 chiều liên kết cống ngầm và mặt địa hình, định lượng hóa mức độ rủi ro ngập dưới tác động đồng thời của biến đổi khí hậu và triều dâng.

Dữ liệu mô phỏng được thể hiện trực quan thông qua hệ thống bản đồ số GIS phân vùng độ sâu ngập lụt, biểu đồ trắc dọc mực nước đỉnh cống trên tuyến Mai Thị Lựu và bảng so sánh diện tích ngập giữa các kịch bản phát thải. Các biểu đồ thủy lực chỉ ra rõ rệt hiện tượng nghẽn dòng tại các điểm giao cắt cống tròn và cống hộp, minh chứng rằng việc nâng cấp đơn lẻ từng đoạn cống sẽ không mang lại hiệu quả nếu không giải quyết đồng bộ cao trình cửa xả và điều tiết lưu lượng đỉnh.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, cải tạo và nâng cấp đồng bộ mạng lưới cống thoát nước nhánh. Ủy ban nhân dân Quận 1 phối hợp với Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng Hạ tầng Đô thị Thành phố Hồ Chí Minh cần thay thế toàn bộ các tuyến cống tròn đường kính dưới 1,0m đã xuống cấp bằng cống hộp đôi kích thước từ 1,6m x 1,6m đến 2,5m x 2,5m tại các điểm ngập trọng điểm như đường Mai Thị Lựu, Nguyễn Cư Trinh, Cô Giang và Calmette. Mục tiêu đặt ra là nâng công suất thoát nước đáp ứng vũ lượng mưa 100 mm trong 60 phút, hoàn thành trong giai đoạn 2021-2025.

Thứ hai, xây dựng hệ thống hồ điều tiết ngầm thông minh đa chức năng. Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh cần chủ trì triển khai xây dựng 2 cụm hồ điều tiết ngầm với dung tích từ 5.000 m3 đến 10.000 m3 tại khu vực công viên Tao Đàn và công viên 23 tháng 9. Giải pháp này hướng tới mục tiêu cắt giảm 35% lưu lượng đỉnh dòng chảy tràn trong 30 phút mưa đầu tiên, giữ lại lượng nước mặt dư thừa trước khi xả chậm vào hệ thống cống, triển khai thực hiện trong giai đoạn 2023-2027.

Thứ ba, lắp đặt trạm bơm cưỡng bức kết hợp cửa van ngăn triều tự động một chiều. Trung tâm Quản lý Hạ tầng Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh cần khẩn trương bố trí các trạm bơm có công suất từ 3 m3/s đến 5 m3/s tại các cửa xả chính dẫn ra rạch Thị Nghè và kênh Bến Nghé. Đồng thời, lắp đặt hệ thống van nắp lật tự động đóng khi triều sông Sài Gòn vượt ngưỡng 1,40m, ngăn chặn triệt để nước sông xâm nhập ngược vào các khu dân cư trũng thấp, hoàn thành trước năm 2026.

Thứ tư, áp dụng mô hình đô thị bọt biển và tăng cường bề mặt thấm nước. Phòng Quản lý Đô thị Quận 1 cần ban hành quy chế bắt buộc sử dụng vật liệu lát vỉa hè tự thấm trên diện tích tối thiểu 40% bề mặt các tuyến phố đi bộ như Nguyễn Thái Học, Lê Lợi và Nguyễn Huệ. Kết hợp xây dựng các bồn cây thu nước mưa tại các dải phân cách nhằm nâng tỷ lệ giữ nước tại chỗ lên 20% tổng lượng mưa bề mặt, thực hiện liên tục trong giai đoạn 2022-2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà quản lý đô thị và cơ quan hoạch định chính sách tại Sở Xây dựng, Sở Quy hoạch - Kiến trúc và Ủy ban nhân dân Quận 1. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học chuẩn xác về 5 tuyến đường trọng điểm có nguy cơ ngập sâu từ 0,20m đến 0,50m, giúp định hình kế hoạch nâng cốt nền đô thị và phân bổ ngân sách đầu tư công chống ngập hiệu quả cho tầm nhìn 2030.

Thứ hai, các kỹ sư công trình thủy và chuyên viên tư vấn thiết kế hạ tầng cấp thoát nước đô thị. Luận văn cung cấp trọn bộ thông số đường cong quan hệ mưa IDF trạm Cầu Bông chuỗi 36 năm và hướng dẫn thiết lập mô hình MIKE URBAN, phục vụ việc tính toán thủy lực cho các dự án cải tạo mạng lưới cống hộp kích thước 1,6m - 2,5m.

Thứ ba, các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Thủy văn học, Biến đổi khí hậu và Kỹ thuật Môi trường. Công trình là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp tích hợp mô hình thủy văn - thủy lực 1D-2D (MIKE 11, MIKE 21, MIKE URBAN) liên kết công nghệ GIS trong đánh giá rủi ro thiên tai đô thị.

Thứ tư, các chủ đầu tư dự án bất động sản, ban quản lý tòa nhà cao tầng và các công ty bảo hiểm tài sản tại khu vực trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu bản đồ ngập lụt chi tiết đến từng phường giúp các đơn vị chủ động thiết kế hệ thống tường chắn ngập tầng hầm, lắp đặt bơm chìm tự động công suất lớn và định mức phí bảo hiểm rủi ro thiên tai chính xác.

Câu hỏi thường gặp

Quận 1 có địa hình cao hơn các quận ven nhưng vì sao vẫn xảy ra ngập úng nghiêm trọng sau mưa lớn? Quận 1 có cao độ từ 2m đến 6m, cao nhất đạt 10m tại phường Bến Nghé, nhưng vẫn ngập do mạng lưới cống xây dựng từ lâu chỉ đáp ứng vũ lượng mưa dưới 137,7 mm trong 90 phút. Tỷ lệ bê tông hóa trên 75% tạo dòng chảy tràn tập trung rất nhanh vào các vùng trũng cục bộ từ 1,5m đến 3m như phường Cô Giang, Cầu Kho.

Bộ mô hình MIKE có ưu điểm gì vượt trội so với các phương pháp tính toán thủy lực truyền thống? Bộ mô hình MIKE giải quyết trọn vẹn tương tác thủy lực phức tạp thông qua việc liên kết MIKE 11 (dòng chảy kênh hở), MIKE URBAN (áp lực trong cống ngầm 1D) và MIKE 21 (dòng tràn bề mặt 2D). Sự kết hợp này giúp tái hiện chính xác hiện tượng nước tràn hố ga và nghẽn dòng khi đỉnh triều sông Sài Gòn vượt 1,71m.

Biến đổi khí hậu theo kịch bản RCP4.5 và RCP8.5 tác động như thế nào đến chế độ mưa tại trung tâm thành phố? Theo phân tích đường cong IDF trạm Cầu Bông, các kịch bản biến đổi khí hậu đến năm 2030 làm gia tăng cường độ mưa thời đoạn ngắn từ 12% đến 18% so với chuỗi quan trắc 1980-2016. Các trận mưa cực đoan có vũ lượng trên 100 mm xuất hiện với tần suất dày đặc hơn, gây quá tải cho phần lớn hệ thống cống hiện hữu.

Trận mưa lịch sử ngày 26/09/2016 đóng vai trò gì trong quá trình nghiên cứu của luận văn? Trận mưa ngày 26/09/2016 đạt vũ lượng 132 mm tại trạm Cầu Bông và 204,3 mm tại trạm Mạc Đĩnh Chi trong 3 giờ. Đây là sự kiện cực đoan đại biểu được tác giả sử dụng làm dữ liệu đầu vào để hiệu chỉnh độ nhám cống và kiểm định mức độ trùng khớp của mô hình với độ sâu ngập thực tế 0,20m - 0,30m.

Hồ điều tiết ngầm có vai trò then chốt như thế nào trong giải pháp chống ngập cho Quận 1? Hồ điều tiết ngầm dung tích từ 5.000 m3 đến 10.000 m3 tại công viên Tao Đàn và 23 tháng 9 giúp tạm trữ lượng nước mưa đột biến trong 30 phút đầu, giảm tới 35% lưu lượng đỉnh chảy vào cống ngầm. Nước sau đó được bơm tiêu thoát dần khi mưa ngớt và đỉnh triều hạ thấp.

Kết luận

  • Luận văn đã xây dựng thành công bộ công cụ mô hình hóa thủy lực liên kết 1D-2D mô phỏng chi tiết quá trình ngập úng trên diện tích 7,71 km2 thuộc 10 phường Quận 1.
  • Cập nhật và chuẩn hóa hệ thống đường cong quan hệ mưa IDF tại trạm Cầu Bông chuỗi 36 năm theo các kịch bản biến đổi khí hậu RCP4.5 và RCP8.5 tầm nhìn đến năm 2030.
  • Xác định nguyên nhân cốt lõi gây ngập là sự kết hợp giữa mưa cực đoan trên 130 mm, đỉnh triều sông Sài Gòn vượt 1,71m và bề mặt bê tông hóa trên 75%.
  • Thành lập bản đồ phân vùng nguy cơ ngập lụt chi tiết với độ sâu ngập dự báo từ 0,20m đến 0,50m, xác định các điểm nghẽn thủy lực chính trên các trục đường huyết mạch.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình khả thi với trọng tâm là xây dựng hồ điều tiết ngầm 5.000 - 10.000 m3 và nâng cấp cống giai đoạn 2021-2030.

Đóng góp lớn nhất của nghiên cứu là cung cấp cơ sở khoa học định lượng hỗ trợ chuyển đổi từ chống ngập bị động sang quản lý rủi ro ngập lụt đô thị chủ động. Để bảo vệ an toàn cho trung tâm kinh tế đầu não của Thành phố Hồ Chí Minh trước tác động khó lường của biến đổi khí hậu, các cơ quan ban ngành cần sớm đưa các khuyến nghị của luận văn vào quy hoạch và kế hoạch hành động thực tiễn.