MỞ ĐẦU Trong vài thập kỷ gần đây, các hoạt động của con ngƣời đã và đang góp phần làm tăng đáng kể nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển, từ đó làm tăng nhiệt độ toàn cầu, dẫn đến hàng loạt những biến đổi nghiêm trọng của môi trƣờng tự nhiên. Nếu không có những biện pháp giảm thiểu và thích ứng với BĐKH, có thể sẽ dẫn đến những tác động nghiêm trọng đến an ninh con ngƣời, môi trƣờng, kinh tế và xã hội trong một tƣơng lai không xa.-Tây Nguyên là vùng cao nguyên với đặc điểm thổ nhƣỡng bazan ở độ cao 500m đến 600m so với mặt biển [65], Tây Nguyên rất phù hợp với những cây công nghiệp nhƣ cà phê, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm trong đó cà phê là cây công nghiệp quan trọng số một ở Tây Nguyên. Tây Nguyên cũng là khu vực ở Việt Nam có nhiều diện tích rừng với thảm sinh vật đa dạng, trữ lƣợng khoáng sản phong phú hầu nhƣ chƣa khai thác và tiềm năng du lịch lớn. Nằm trong vùng nhiệt đới xavan, khí hậu Tây Nguyên đƣợc chia làm hai mùa: mùa mƣa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và khô nhất.
Do ảnh hƣởng của độ cao nên ở các cao nguyên cao 400 – 500m khí hậu tƣơng đối mát, mƣa nhiều [65]. Theo báo cáo Hiện trạng sản xuất, giải pháp phát triển và trồng tái canh cà phê của Cục Trồng trọt – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2012, tính từ năm 1961, diện tích cà phê cả nƣớc đạt khoảng 21200 ha [3] thì cho tới năm 2014 (sau hơn 50 năm), diện tích trồng cà phê của cả nƣớc đã mở rộng ra các khu vực chính, ƣớc tính vào khoảng 653000ha [58] Cây cà phê vối (coffee Canephora) đƣợc trồng ở Việt Nam, hầu hết là thuộc chủng Robusta cho năng suất cao và có khả năng kháng bệnh tốt. Đối với cà phê vối, mùa vụ thu hoạch thƣờng trong khoảng tháng 11 và 12 dƣơng lịch. Đây là giai đoạn đầu mùa khô nên việc thu hoạch và chế biến bảo quản sau thu hoạch sẽ thuận lợi.
Mùa hoa cà phê nở vào tháng 2 và tháng 3 dƣơng lịch, đây là giai đoạn mùa khô, phù hợp với yêu cầu để phát triển tốt cho cây cà phê [22], tháng 4 và tháng 5 là giai đoạn quan trọng bởi nếu không mƣa hoặc ít mƣa sẽ làm ảnh hƣởng 1 đến hạt cà phê [17]. Nhƣng với tình hình khí hậu diễn biến thất thƣờng trong mấy năm gần đây có thể đem lại những bất lợi cho ngành cà phê Việt Nam. Những đợt mƣa cuối vụ lớn và kéo dài và những đợt khô hạn đã tác động đến tình hình thu hái, chế biến và sự ra hoa đậu quả của cây cà phê ở các tỉnh Tây Nguyên. Theo dự báo của Mạng thông tin Nông nghiệp toàn cầu của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ USDA, sản lƣợng cà phê của nƣớc ta mùa vụ 2014-2015 là khoảng 1,75 triệu tấn, tăng nhẹ so với mùa vụ 2013-2014 là 1,68 triệu tấn [58].
Tuy nhiên, những thay đổi về điều kiện khí hậu vẫn khiến các hộ trồng cà phê cần có biện pháp phù hợp để ứng phó và không làm ảnh hƣởng đến năng suất, sản lƣợng cà phê. Điều này làm ảnh hƣởng nhiều tới đời sống của ngƣời dân cũng nhƣ quá trình xuất khẩu cà phê của nƣớc ta. Để xác định đƣợc các biểu hiện đặc trƣng của BĐKH tác động nhƣ thế nào đến quá trình trồng cây cà phê (đối tƣợng cà cây cà phê vối – Robusta) ở Tây Nguyên, luận văn đƣa ra vấn đề cần giải quyết là “Đánh giá mức độ biến đổi khí hậu và bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của nó tới cây cà phê ở Tây Nguyên”. Để làm rõ đƣợc vấn đề đƣa ra, luận văn tập trung vào các nội dung sau: - Đặc điểm của điều kiện tự nhiên tại Tây Nguyên; sự hình thành, phát triển và các yêu cầu sinh thái của cây cà phê tại Tây Nguyên.
- Những ảnh hƣởng của yếu tố khí hậu tới sự sinh trƣởng, phát triển của cây cà phê. - Xu hƣớng thay đổi của các yếu tố khí hậu (nhiệt độ, lƣợng mƣa, độ ẩm) tại khu vực Tây Nguyên trong thời kỳ quá khứ và hiện tại. 2 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÂY CÀ PHÊ VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC 1. Tổng quan về cây cà phê 1.
Giới thiệu về cây cà phê Nguồn gốc của cây cà phê trên thế giới là từ rừng châu Phi, cao nguyên Ethiopia. Từ đó, cây cà phê xuất hiện tại Ai Cập và Yemen. Hiện nay, cây cà phê đƣợc trồng tại hơn 50 quốc gia trên thế giới [60]. Hình 1: Bản đồ phân bố các khu vực trồng cà phê trên thế giới Nguồn: CIAT, 2011 Cây cà phê lần đầu tiên đƣa vào Việt Nam từ năm 1888.
Giai đoạn đầu, cà phê chủ yếu đƣợc trồng ở Ninh Bình, Quảng Bình… đến đầu thế kỷ 20 mới đƣợc trồng ở Nghệ An và một số nơi ở Tây Nguyên. Sau khi đƣợc trồng tại nƣớc ta, tính đến năm 2014, theo thông tin của USDA diện tích trồng cà phê trên cả nƣớc xấp xỉ 653 nghìn ha, sản lƣợng đạt 1,75 nghìn tấn [58]. Hiện nay Việt Nam là nƣớc xuất khẩu cà phê đứng thứ 2 trên thế giới chỉ đứng sau Brazil [54]. 3 Bảng 1: Sản lƣợng cà phê vối của 10 quốc gia đứng đầu thế giới (Đơn vị: nghìn tấn) STT Quốc gia 2008/09 2009/10 2010/11 2011/12 2012/13 2013/14 1 Việt Nam 990 1083 1161 1512 1536 1668 2 Brazil 768 708 762 870 930 858 3 Indonesia 522 540 477 420 528 471 4 Ấn Độ 183 195 208 212 219 200 5 Uganda 157 123 154 162 168 180 6 Cote d’Ivoire 111 141 96 96 105 108 7 Malaysia 59 60 66 87 84 90 8 Thái Lan 48 54 51 51 51 51 9 Cameroon 34 30 38 41 29 27 10 Madagascar 30 27 32 32 30 31,5 Nguồn: World markets and Trade, Foreign Agricultural Service/USDA, Office of Global Analysis, 6/2014 [44] Cà phê có hai loài có ý nghĩa kinh tế.
Loài thứ nhất thƣờng đƣợc gọi cà phê chè (tên khoa học: coffea arabica), đại diện cho khoảng 61% các sản phẩm cà phê trên thế giới. Loài thứ hai là cà phê vối (tên khoa học: coffea canephora hay coffea robusta), chiếm gần 39% các sản phẩm cà phê. Ngoài ra còn có Coffea liberica và Coffea excels (ở Việt Nam gọi là cà phê mít) với sản lƣợng không đáng kể [64]. Cà phê trồng ở nƣớc ta bao gồm cà phê vối (robusta) chiếm 92,9% diện tích, cà phê chè (arabica) chiếm 6% diện tích và ít nhất là cà phê mít (excelsa) đạt gần 5 nghìn ha [3].
Cà phê chè (coffea arabica.) thƣờng đƣợc trồng ở độ cao 1000-1500m. Cây có tán lớn, màu xanh đậm, lá hình oval. Quả của cây cà phê chè hình bầu dục, mỗi quả chứa hai hạt cà phê. Cây cà phê chè do có hƣơng vị thƣơm ngon và chứa ít hàm lƣợng caffeine hơn nên đƣợc đánh giá cao hơn cà phê vối [61].
4 Hình 2: Cây cà phê chè Nguồn:Wikipedia [60] Cà phê chè có khả năng tự thụ phấn vào khoảng 90%, nên độ thuần chủng cao hơn các loại cà phê khác. Sức nảy mầm của hạt phấn cây cà phê chè nằm trong khoảng từ 24-36 giờ khi ở điều kiện bình thƣờng. Tuy nhiên, nếu đƣợc bảo quản trong điều kiện chân không, nhiệt độ âm 18oC, hạt phấn có thể kéo dài sức nảy mầm của chúng tới 3 năm hoặc hơn nữa [11][15]. Cà phê vối (Coffea canephora Pierre) có nguồn gốc ở rừng nhiệt đới ẩm thuộc khu vực châu Phi với quần thể đa dạng về hình thái do có đặc điểm thụ phấn chéo.
Coffea canephora var.robusta là chủng cà phê vối đƣợc trồng nhiều nhất, chiếm trên 90% diện tích cà phê vối trên thế giới. Cây cà phê vối thuộc chủng này có ƣu điểm là cây khỏe, ít cành thứ cấp, chịu đƣợc sâu bệnh tốt, cho năng suất cao nhƣng lại có nhƣợc điểm là chịu hạn kém [10]. 5 Hình 3: Cây cà phê vối Nguồn:Wikipedia [62] Hàm lƣợng caffeine trong hạt cà phê vối cao (2-4%) nên hƣơng vị không tinh khiết bằng cà phê chè (caffein 1-2%) do đó có giá trị thấp hơn [63]. Một trong nhƣng lý do khiến diện tích cà phê vối cao hơn rất nhiều so với các chủng loại cà phê khác là vì chúng có sức sinh trƣởng tốt và kháng đƣợc bệnh do nấm và vi khuẩn.
Cà phê mít (coffea excels.) là cây gỗ nhỡ, thân, lá và quả đều to. Cà phê mít có khả năng chịu hạn tốt, ít cần nƣớc tƣới, sinh trƣởng khỏe, ít kén đất, ít sâu bệnh. Do đặc tính chịu hạn và khả năng chống chọi với sâu bệnh tốt nên cà phê mít đƣợc sử dụng để làm gốc ghép cho các loại cà phê khác [62]. Cà phê mít ở Việt Nam đƣợc trồng rất ít do có giá trị thấp (vị chua, ít hƣơng hoặc không hƣơng).
6 Hình 4: Cây cà phê mít Nguồn:Wikipedia [61] 1. Yêu cầu sinh thái của cây cà phê Cây cà phê là cây công nghiệp nhiệt đới, để cho năng suất và sản lƣợng cao, ta cần nắm đƣợc những điều kiện sinh thái của cây cà phê, đặc biệt là đối tƣợng nghiên cứu trong luận văn – cây cà phê vối. Theo các tác giả Willson (1985) [46]; Wrigley (1988) [47] và Raju (1969) [41], đất đai và khí hậu là 2 yếu tố sinh thái quan tọng của đời sống cây cà phê. Yêu cầu khí hậu: - Nhiệt độ: Do có ảnh hƣởng đến khả năng sinh trƣởng và phát triển của cây cà phê, nhiệt độ là yếu tố đƣợc đƣa ra đầu tiên.
Tùy vào từng loại cà phê mà phạm vi thích 7 hợp với nhiệt độ của chúng khác nhau, cũng nhƣ các ngƣỡng nhiệt phát triển tốt cũng khác nhau. Đối với cà phê chè, cây yêu cầu điều kiện có chế độ tán rừng, mát, độ cao từ 1300-1800 m so với mặt biển. Cà phê chè có thể sinh trƣởng và phát triển ở nhiệt độ từ 5-30oC, thích hợp nhất nhiệt độ từ 15oC – 24oC; Nhiệt độ trên 30oC; quá trình quang hợp sẽ ngừng [48]. Năm 1968, Altamann cho rằng lá cà phê chè ngoài nắng ở nhiệt độ 20oC trong 1 giây chỉ quang hợp đƣợc khoảng 7 mol CO2 so với cây trồng khác là 15 - 25 mol CO2 [23].
Khi nhiệt độ xuống 5oC, cây bắt đầu giảm sinh trƣởng và nếu kéo dài sẽ gây thiệt hại đến cây (Cannel, 1987) [26]. Đối với cà phê vối, điều kiện khí hậu cần để cây phát triển là ở vùng có khí hậu nóng ẩm, mƣa nhiều và đƣợc phân rõ 2 mùa chính là mùa khô và mùa mƣa trong năm. Đây cũng là một trong những ƣu điểm về đặc điểm khí hậu mà Tây Nguyên có đƣợc.