đặt vấn đề nghiên cứu về phát triển bền vững nông nghiệp trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Vì vậy, đây là một đề tài độc lập, đề cập một cách đầy đủ và hệ thống hóa về phát triển bền vững nông nghiệp trên địa bàn huyện Vĩnh Linh. Luan van 9 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP 1.1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm a. Nông nghiệp Có thể hiểu, nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất tạo ra các sản phẩm lƣơng thực, thực phẩm đáp ứng nhu sinh tồn của con ngƣời.
Nông nghiệp theo nghĩa hẹp (nông nghiệp thuần túy) chỉ có ngành trồng trọt và chăn nuôi. Nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả ba nhóm ngành: nông nghiệp thuần túy, lâm nghiệp và ngƣ nghiệp, là ngành có vai trò quan trọng về kinh tế, xã hội và môi trƣờng sinh thái. Nông nghiệp là ngành duy nhất tạo ra lƣơng thực, thực phẩm, đây là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con ngƣời và phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Nhƣ vậy, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết các nƣớc, nhất là ở các nƣớc đang phát triển.
Ở những nƣớc này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, ngay cả những nƣớc có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ lệ GDP nông nghiệp không lớn, nhƣng khối lƣợng nông sản ở các nƣớc này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con ngƣời những sản phẩm tối cần thiết đó là lƣơng thực, thực phẩm. Nông nghiệp là ngành sản xuất mà đối tƣợng của nó là cơ thể sống – cây trồng và vật nuôi, bị chi phối bởi quy luật sinh học và các điều kiện ngoại cảnh. Vì vậy, trong quá trình phát triển nông nghiệp, con ngƣời không thể ngăn cản hay can thiệp thô bạo và quá trình sinh vật, trái lại phải nghiên cứu Luan van 10 và nhận thức đúng đắn quy luật sinh trƣởng, phát triển của mỗi loại cây và sự biến thiên về điều kiện thời tiết – khí hậu để vận dụng thích hợp vào sản xuất.
Đòi hỏi có những giải pháp thích hợp đảm bảo cho sự phát triển nông nghiệp bền vững nhƣ phân vùng, quy hoạch các vùng nông nghiệp, bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp với các vùng nông nghiệp, bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp với các điều kiện tự nhiên, kinh tế từng vùng, từng địa phƣơng. Chu kỳ sản xuất nông nghiệp dài và phụ thuộc vào chu kỳ sinh học nên trong nông nghiệp, thời gian lao động không trùng khớp với thời gian tạo ra sản phẩm. Khi kết thúc một quá trình lao động cụ thể nhƣ làm đất, gieo trồng… chƣa có sản phẩm ngay mà phải chờ đến khi thu hoạch. Vì vậy, đòi hỏi trong nông nghiệp phải tìm ra hình thức tổ chức kinh tế phù hợp gắn ngƣời lao động với đối tƣợng sản xuất và với kết quả cuối cùng để họ quan tâm và tìm ra cách tạo ra nhiều sản phẩm với chất lƣợng cao, giá thành hạ và đòi hỏi phải phát triển ngành nghề dịch vụ, tạo thêm việc làm ở những thời kỳ nông nhàn, tăng thêm thu nhập cho nông dân.
Phát triển Phát triển là xu hƣớng tự nhiên, đồng thời là quyền của mỗi một cá nhân, mỗi cộng đồng hay mỗi quốc gia. Phát triển là một quá trình thay đổi theo hƣớng hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế. Mục tiêu của sự phát triển là không ngừng cải thiện chất lƣợng cuộc sống vật chất, văn hóa, tinh thần của con ngƣời. Nói cách khác, phát triển là tạo điều kiện cho con ngƣời đƣợc thỏa mãn các nhu cầu sống, đƣợc hƣởng những thành tựu về văn hóa và tinh thần, có đủ tài nguyên cho một cuộc sống sung túc, đƣợc sống trong một môi trƣờng trong lành, đƣợc hƣởng các quyền cơ bản của con ngƣời và đƣợc bảo đảm an ninh, an toàn, không bạo lực.
Theo chƣơng trình phát triển của Liên hiệp quốc, “Mục đích của phát triển là tạo ra một môi trƣờng thuận lợi cho phép con ngƣời đƣợc hƣởng cuộc Luan van 11 sống lâu dài, mạnh khỏe và sáng tạo”, mở rộng cơ hội lựa chọn cho ngƣời dân và tạo điều kiện để họ thực hiện sự lựa chọn đó, luôn xem “con ngƣời là trung tâm của phát triển”, sự phát triển vì con ngƣời, của con ngƣời và do con ngƣời. Phát triển phải là một quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định. Phát triển kinh tế là yếu tố cơ bản của sự phát triển nói chung. Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế.
Phát triển kinh tế đƣợc xem nhƣ là quá trình biến đổi cả về lƣợng và về chất; nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia; là sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên một đầu ngƣời; là sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế và sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội. Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia không phải là tăng trƣởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là việc xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dƣỡng, sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nƣớc sạch, trình độ dân trí giáo dục của quãng đại quần chúng nhân dân… c. Phát triển bền vững Giữa môi trƣờng và sự phát triển kinh tế có mối quan hệ hết sức chặt chẽ. Môi trƣờng là địa bàn và đối tƣợng của sự phát triển kinh tế, còn phát triển kinh tế là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trƣờng.
Trong lịch sử đã có lúc phát triển kinh tế đã đƣớc đặt lên hàng đầu, lấn át các yếu tố khác nhƣ: xã hội, môi trƣờng… Khuynh hƣớng này đã gây ra hậu quả hết sức tai hại cho cả môi trƣờng lẫn xã hội. Ngƣợc lại với quan điểm trên là quan điểm “tăng trƣởng bằng hoặc không âm” để bảo vệ các nguồn tài nguyên hoặc “chủ Luan van 12 nghĩa bảo tồn” chủ trƣơng không đụng chạm vào thiên nhiên. Vì vậy, theo các nhà khoa học con đƣờng để giải quyết mâu thuẫn giữa môi trƣờng và phát triển kinh tế là phát triển bền vững. Chiến lƣợc bảo vệ toàn cầu đƣợc công bố vào năm 1980 bởi Hiệp hội Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên – IUCN, đã nhấn mạnh rằng loài ngƣời tồn tại nhƣ một bộ phận của thiên nhiên.
Loài ngƣời sẽ không có tƣơng lai nếu thiếu thiên nhiên và các tài nguyên thiên nhiên không đƣợc bảo vệ. Thuật ngữ phát triển bền vững lần đầu tiên đƣợc sử dụng trong bản Chiến lƣợc này, khi nhấn mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo vệ môi trƣờng phát triển. Ủy ban Thế giới về Môi trƣờng và Phát triển (WCRD – 1987) định nghĩa “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hệ hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” và quan niệm về phát triển bền vững của tác giả Tatyana P.Soubbotina,“Phát triển bền vững”cũng có thể được gọi bằng cách khác là phát triển “bình đẳng và cân đối”, có nghĩa là để duy trì sự phát triển mãi mãi, cần cân bằng giữa lợi ích của các nhóm người trong cùng một thế hệ và giữa các thế hệ, và thực hiện điều này đồng thời trên cả ba lĩnh vực quan trọng có mối quan hệ qua lại với nhau – kinh tế, xã hội và môi trường”. Nhƣ vậy, có nhiều khái niệm về phát triển bền vững, thậm chí có nhiều quan điểm khác nhau.
Tổng hợp các quan điểm có thể hiểu rằng: “Phát triển bền vững là sự phát triển trong đó kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển là kinh tế, xã hội và môi trường nhằm thỏa mãn được nhu cầu xã hội hiện tại nhưng không tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai”. Đối với Việt Nam, Đảng và Nhà nƣớc rất quan tâm đến phát triển bền vững. Phát triển bền vững đã trở thành đƣờng lối, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nƣớc. Chủ trƣơng và mục tiêu phát triển bền vững của Luan van 13 Việt Nam đƣợc thể hiện từ trong các Văn kiện Đại hội của Đảng và trong các chƣơng trình hành động của Chính phủ.
Phƣơng châm phát triển đất nƣớc trong những năm gần đây là chủ động kết hợp giữa mục tiêu tăng trƣởng kinh tế với mục tiêu công bằng và tiến bộ xã hội; phát triển con ngƣời và bảo vệ môi trƣờng; phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nhiều văn bản của Nhà nƣớc đã đƣợc ban hành, triển khai thực hiện và “Định hƣớng chiến lƣợc phát triển bền vững ở Việt Nam” đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt vào năm 2004 là một chiến lƣợc khung, bao gồm những định hƣớng lớn làm cơ sở pháp lý để các bộ, ngành, địa phƣơng, các tổ chức và cá nhân có liên quan triển khai thực hiện và phối hợp hành động nhằm đảm bảo phát triển bền vững đất nƣớc trong thế kỷ 21. Định hƣớng này xác định 19 ƣu tiên trên 3 lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trƣờng cần đƣợc triển khai thực hiện trong 10 năm trƣớc mắt, đó là: Mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế: + Duy trì tăng trƣởng kinh tế nhanh và ổn định trên cơ sở nâng cao không ngừng tính hiệu quả, hàm lƣợng khoa học - công nghệ và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và cải thiện môi trƣờng. + Thay đổi mô hình và công nghệ sản xuất, mô hình tiêu dùng theo hƣớng sạch hơn và thân thiện với môi trƣờng.
+ Thực hiện quá trình “công nghiệp hóa sạch”. + Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững. + Phát triển bền vững vùng và xây dựng các cộng đồng địa phƣơng phát triển bền vững. Mục tiêu phát triển bền vững về xã hội: + Tập trung nỗ lực để xóa đói, giảm nghèo, tạo thêm việc làm.
+ Tiếp tục hạ thấp tỉ lệ gia tăng dân số, giảm bớt sức ép của sự gia tăng Luan van 14 dân số và tính trạng thiếu việc làm.