chương 1, tác giả đưa ra bố cục năm chương của khóa luận và khái quát nội dung chính sẽ được trình bày ở mỗi chương. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương 2 là phần đề cập những lý thuyết quan trọng liên quan chặt chẽ đến vấn đề nghiên cứu. Chương này cũng tiến hành lược khảo các nghiên cứu có liên quan ở Việt Nam và trên thế giới, xác định khoảng trống ở kết quả công bố trước đó, cũng như xác định các yếu tố có tác động làm cơ sở để hình thành mô hình nghiên cứu. Lý thuyết thị trường hiệu quả Lý thuyết thị trường hiệu quả đã đóng một vai trò lớn trong những cuộc tranh luận xuyên suốt nhiều năm trong giới học thuật, và trong giới thực hành đầu tư.
Hiểu theo lý thuyết, thị trường hiệu quả là nơi mà giá cả sẽ phản ánh được toàn bộ lượng thông tin được công bố trên thị trường, chiếu theo điều này, nhà đầu tư với cơ hội bằng không khi đối đầu với thị trường, khi chính những sự thiếu minh bạch hay những lợi thế thông tin mới là điều đem lại sự khác biệt cho các nhà đầu tư. Theo Miller et all (2011) – cha đẻ của học thuyết này, thị trường hiệu quả được thể hiện qua 3 điều chính: hiểu biết của nhà đầu tư, mức tương quan giữa hiêu biết và sai lệch của nhà đầu tư độc lập với nhau, không thể kinh doanh chênh lệch. Theo đó, nếu tất cả các nhà đầu tư đều có được sự hiểu biết ngang nhau, thì kỳ vọng từ thị trường của tất thảy đều dừng ở mức ngang nhau, và thị trường sẽ được điều chỉnh theo mức đó, vì thế những chỉ số như “Earning Excess Return” sẽ không khả thi trong hoàn cảnh này, thêm nữa, dù cho nhà đầu tư có vô lý tới đâu , nhưng vì sự vô lý đó lại không tương quan với sự hiệu quả của thị trường, nên thị trường vẫn se vận hành hiệu quả mà không gặp một vấn đề nào, và cứ giả dụ, nếu thị trường này có tương quan với sự vô lý của các nhà đầu tư này, thì sẽ lại là cơ hội cho các nhà đầu tư khác kinh doanh chênh lệch rồi lại kéo mọi thứ về lại điểm hiệu quả. Lý thuyết này hiện có 3 góc nhìn chính là hiệu quả thấp, hiệu quả trung bình và hiệu quả cao.
Với dạng giả thuyết thị trường hiệu quả thấp, mức giá của thị trường 7 lại có độ trễ trong phản ánh tin tức, thường sau khi tin tức đã ra được một thời gian. Hiệu theo nghĩa khác, thì nghĩa là giá của thị trường là biến động không tuân theo một quy luật nào, và không thể ước đoán được. Đồng nghĩa với chiến lược phân tích kỹ thuật trở nên không hữu hiệu, Với dạng giả thuyết thị trường trung bình, mọi thông tin chính thống công bố đều được phản ánh vào giá. Theo dó, giá thị trường sẽ chạy theo mức độ công bố tin tức của công ty, với giả thuyết này, việc sử dụng phân tích cơ bản, kết hợp kỹ thuật sẽ đóng vai trò cốt lõi trong chiến lược đánh bại thị trường, Với dạng giả thuyết thị trường cao, mọi thông tin bất kể nội bộ hay chính thống đều sẽ được phản ánh vào giá, lúc đó giá sẽ chuyển động theo mô hình không thể ước đoán trước được, dù có là thông tin nội bộ cũng không thể giúp có lợi nhuận vượt trội so với thị trường được.
Lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz Được giới thiệu lần đầu vào năm 1952 với tên gọi chính thức là Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại (Modern Portfolio Theory) trong tuyển tập nghiên cứu “lựa chọn danh mục” của Markowitz. Theo đó, lý thuyết sẽ giả định rằng các nhà đầu tư với độ thỏa hiệp rủi ro bằng không, hay cụ thể hơn sẽ là thích đầu tư vào những danh mục ít rủi ro hơn nếu xét về cùng một mức tỷ suất sinh lời. Và dựa vào việc lợi nhuận và rủi ro là hai nhân tố không thể tách rời, và tương quan mạnh vơi nhau khi rủi ro cao sẽ đi kèm với tỷ suất sinh lời cao và ngược lại 𝐸(𝑅𝑝 ) = 𝑤𝑋 𝐸 (𝑅𝑋 ) + 𝑤𝑌 𝐸(𝑅𝑌 ) 𝜎𝑝2 = 𝑤𝑋2 𝜎𝑥2 + 𝑤𝑌2 𝜎𝑌2 + 2𝑤𝑋 𝑤𝑌 𝜎𝑋 𝜎𝑌 𝜌𝑋𝑌 (|𝜌| ≤ 1) 8 Với ý tưởng như trên, Markowitz đã xây dựng nên một mô hình xây dựng danh mục mà yếu tố tỷ suất sinh lời luôn được ưu tiên tối ưu hàng đầu với từng mức độ rủi ro khác nhau. Mô hình kết hợp nhiều dạng tài sản lại với nhau, dựa theo phân bố của từng danh mục, tự tương quan của từng cặp và độ lệch chuẩn riêng biệt, tìm được hiệp phương sai danh mục đầu tư.
Điểm đặc biệt, là tất cả điểm giá trị kết hợp của các danh mục đầu tư được hình hóa và tạo thành đường biên hiệu quả Hình 2.1: Đường biên hiệu quả Markowitz Việc lựa chọn dạng phân bổ danh mục đầu tư sẽ phụ thuộc vào khẩu vị của các dạng đầu tư khác nhau, được thể hiện qua các thông điểm giá trị chạy dọc theo đường biên hiệu quả. Với trục tung là kỳ vọng tỷ suất sinh lời và trục hoành là độ lệch chuẩn danh mục, với điểm giá trị càng tịnh tiến đi xa càng phản ảnh rõ về khẩu vị ưa mạo hiểm, nhưng đổi lại sẽ là tỷ suất sinh lời tăng cao đúng với kỳ vọng của nhà đầu tư. Kết lại, Danh mục đầu tư tối ưu sẽ là danh mục chạy sát theo đường biên hiệu quả và tiếp xúc với điểm hiệu dụng nằm ngay trên điểm cong nhất của đường biên hiệu quả. Mô hình định giá tài sản vốn CAPM Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) được phát triển dựa trên học thuyết danh mục đầu tư hiện đại của Markowitz bởi William Sharpe (1964), ngoài những yếu tố cốt lõi của mô hình gốc của Markowitz, Sharpe còn ứng dụng thêm 2 yếu tố giả định rằng nhà đầu tư kỳ vọng một mức lợi nhuận đúng bằng lãi suất phi rủi ro (hay lãi suất trái phiếu kỳ hạn), cộng với khoản bù đắp rủi ro dựa trên mức độ biến động của thị trường (hay rủi ro hệ thống của thị trường).
Còn rủi ro phi hệ thống sẽ không được tính vào, khi có thể loại bỏ dựa vào cách đa dạng hóa danh mục của lý thuyết gốc của Markowitz. 𝑬(𝑹𝒊 ) = 𝑹𝐟 + 𝜷(𝑬(𝑹𝒎 ) − 𝑹𝒇 ) Để đánh giá, CAPM vẫn giữ nguyên tinh thần của mô hình lý thuyết danh mục hiện đại, nhưng đã có bổ sung một số điểm mới như sau: - CAPM có thể định giá được các tài sản độc lập - CAPM bố sung yếu tố tài sản phi rủi ro vào mô hình - CAPM phân chia cụ thể hai dạng rủi ro hệ thống và phi hệ thống Tuy nhiên, CAPM cũng đã bộc lộ những mặt hạn chế của mình, có thể kể đến như: giả định về lãi suất phi rủi ro thiếu thực tế, không thể ước lượng được rủi ro đòn bẩy trong mô hình, tác động TSSL, chỉ số Beta không có tính ổn định , ảnh hưởng của Q4-Q1 trong báo cáo tài chính cũng không thể đo lường, và thiếu các yếu tố đặc thù của thị trường tài chính như quy mô doanh nghiệp, ảnh hưởng của các chỉ sô P/E, hay M/B 10 2. Mô hình định giá Fama-French 3 nhân tố Kế thừa công trình William Sharpe, hai học giả Eugene Fama và Kenneth French đã phát triển và khỏa lấp vào khoảng trống nghiên cứu của mô hình CAPM. Mô hình Fama-French 3 nhân tố chỉ ra ảnh hưởng của yếu tố quy mô và giá trị trong biến động của thị trường tài chính Mỹ năm 1963-1990, và hai học giả cũng chỉ ra được mối quan hệ giữa Beta và TSSL bình quân vào gia đoạn này không thực sự cao; và thay vào đó là các yếu tố quy mô (Size) và giá trị (B/M) so với TSSL bình quân lại cho ra kết quả khả phù hợp đánh giá mức độ biến động rủi ro của TSSL bình quân thị trường.
kết hợp với CAPM, có được mô hình Fama-French 3 nhân tố như dưới. 𝑹𝒊𝒕 − 𝑹𝒇𝒕 = 𝒂𝒊 + 𝒃𝒊 (𝑹𝑴𝒕 − 𝑹𝒇𝒕 ) + 𝒔𝒊 𝑺𝑴𝑩𝒕 + 𝒉𝒊 𝑯𝑴𝑳𝒕 + 𝒆𝒊𝒕 Trong đó: tại mỗi kỳ quan sát t 𝑹𝒊 là mức lợi nhuận cho danh mục i. 𝑹𝒇 là mức lợi nhuận không rủi ro. 𝑹𝑴 là mức lợi nhuận kỳ vọng của toàn bộ thị trường.
SMB là bình quân chênh lệch trong quá khứ giữa lợi nhuận danh mục cổ phiếu công ty nhỏ so với lợi nhuận danh mục cổ phiếu công ty lớn. HML là bình quân chênh lệch trong quá khứ giữa lợi nhuận danh mục cổ phiếu công ty có giá trị B/M cao so với giá trị B/M thấp. 𝒆𝒊 là sai số ngẫu nhiên Mô hình Fama-French sau khi ra mắt, với các chia danh mục mới, đã đem lại được kết quả vượt trội so với CAPM với độ sai số các biến rất bé, ngoài thị trường phát triển, cũng đã được ứng dụng ở những thị trường mới nổi như Thái Lan, Nam Phi, Ấn Độ, Đài Loan,…Tuy nhiên, mô hình cũng được đánh giá là chưa đủ thuyết 11 phục, khi 3 nhân tố chính chưa phản ánh được toàn bộ ảnh hưởng lên TSSL bình quân của danh mục đầu tư 2. Mô hình định giá Fama-French 5 nhân tố Bắt đầu với việc giá thị trường của của doanh nghiệp, trong mô hình chiết khấu trái phiếu, tương đương với giá trị hiện tại của giá trị trái phiếu tương lai ∞ 𝑴𝒕 = ∑ 𝑬(𝑫𝒕+𝝉 ) / (𝟏 + 𝒓)𝝉 𝒕=𝟏 Trong đó 𝑀𝑡 là giá trị trường theo thời gian t, 𝐸(𝐷𝑡+𝜏 ) là giá trị kỳ vọng của cổ tức trong khoảng thời gian 𝑡 + 𝜏, và r là lợi nhuận cổ phiếu kỳ vọng trung bình cho tới ngày đáo hạn.
Từ đó giá trị thị trường của cổ phiếu có thể thiết kê theo công thức sau: ∞ 𝑴𝒕 = ∑ 𝑬(𝒀𝒕+𝝉 − 𝒅𝑩𝒕+𝝉 ) / (𝟏 + 𝒓)𝝉 𝒕=𝟏 Trong đó 𝑌𝑡+𝜏 là tổng lợi nhuận vốn chủ sở hữu trong giai đoạn 𝑡 + 𝜏, 𝑑𝐵𝑡+𝜏 𝐵𝑡+𝜏 – 𝐵𝑡+𝜏−1 là thay đổi trong giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu. sau cùng, chia cả 2 vế cho giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu tại thời điểm t ta được: 𝑴𝒕 ∑∞ 𝒕=𝟏 𝑬(𝒀𝒕+𝝉 − 𝒅𝑩𝒕+𝝉 ) / (𝟏 + 𝒓) 𝝉 = 𝑩𝒕 𝑩𝒕 Phương trình này cho thấy rằng: tỷ suất sinh lời có mối quan hệ nghịch dấu với rủi ro từ thị trường, đồng nghĩa với khi quy mô giảm đi, TSSL cũng sẽ tăng lên.TSSL quan hệ cùng dấu với lợi nhuận kỳ vọng.