Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MA TRẬN SWOT TRONG HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Ma trận SWOT 1. Khái niệm “SWOT là tập hợp viết tắt những chữ cái đầu tiên của các từ tiếng Anh: Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) và Threats (Thách thức). Là mô hình phân tích kinh doanh nổi tiếng dành cho mọi doanh nghiệp bằng cách cải thiện tình hình kinh doanh và đưa ra những hướng đi đúng đắn” [12; tr.
Theo Houben và cộng sự: “mỗi doanh nghiệp đều có sở hữu những điểm mạnh, điểm yếu và cùng đối diện với các cơ hội, nguy cơ từ môi trường bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp tới việc hoàn thành các mục tiêu đặt ra. Bất luận là loại hình doanh nghiệp nào, thuộc ngành nghề nào thì điểm mạnh, yếu, cơ hội, nguy cơ luôn tồn tại. Do đó, doanh nghiệp cần phải xác định cụ thể các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ mà mình cần đối mặt để có phương án phù hợp. Sự kết hợp hợp lý giữa các yếu tố này sẽ mang lại những kết quả tích cực cho hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức.
Phân tích SWOT thực chất là việc kết hợp các điểm mạnh, điểm yếu (có được từ việc phân tích môi trường nội bộ doanh nghiệp) với cơ hội, nguy cơ (có được từ việc phân tích môi trường bên ngoài) một cách logic, có chủ đích, đảm bảo có tính chiến lược phù hợp. SWOT là một trong những công cụ phổ biến nhất để phân tích, xác định giải pháp chiến lược từ các điểm mạnh và điểm yếu của một tổ chức và những cơ hội và thách thức từ môi trường” [18; tr. Ma trận SWOT là một công cụ hữu ích giúp nhà quản lý nắm bắt vấn đề và đưa ra quyết định trong tổ chức, quản lý và kinh doanh. SWOT có thể được hình dung như một khung lý thuyết, từ đó nhà quản trị có thể đánh giá lại các chiến lược, xác định vị thế và hướng đi của tổ chức, doanh nghiệp, phân tích các đề xuất kinh doanh và bất kỳ ý tưởng liên quan nào đến lợi ích của doanh 9 nghiệp.
Trên thực tế, việc áp dụng SWOT trong xây dựng chiến lược kinh doanh, lập kế hoạch, đối thủ cạnh tranh, khảo sát thị trường, phát triển sản phẩm và cả trong báo cáo nghiên cứu đang ngày càng được nhiều doanh nghiệp ưa chuộng. Mỗi tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp có thể sử dụng phân tích SWOT để tận dụng tối đa những tiềm lực mà nội tại doanh nghiệp đang có, mang lại lợi ích tốt nhất cho tổ chức của bạn đồng thời giảm thiểu khả năng thất bại, bằng cách hiểu đúng về những gì bạn đang làm, những thiếu sót bạn có để cải thiện và phát huy tối đa năng lực của tổ chức. Nguồn gốc của ma trận SWOT “ Mô hình phân tích SWOT được cho rằng do Albert Humphrey phát triển vào những năm 1960 - 1970. Đây là kết quả của một dự án nghiên cứu do đại học Stanford, Mỹ thực hiện.
Dự án này sử dụng dữ liệu từ 500 doanh nghiệp có doanh thu lớn nhất nước Mỹ (Fortune 500) nhằm mục đích tìm ra nguyên nhân vì sao nhiều doanh nghiệp thất bại trong việc thực hiện kế hoạch. Ban đầu khảo sát này được đặt tên là phân tích SOFT. Trong đó, những điều “tốt” ở hiện tại là “Những điều hài lòng” (Satisfactory), những điều “tốt” trong tương lai được gọi là “Cơ hội” (Opportunity); những điều “xấu” ở hiện tại là “Sai lầm” (Fault) và những điều “xấu” trong tương lai là “Nguy cơ” (Threat). Tuy nhiên, cho đến năm 1964, sau khi mô hình này được giới thiệu cho Urick và Orr tại Zurich Thuỵ Sĩ, Albert cùng các cộng sự của mình đã đổi F (Fault) thành W (Weakness) và SWOT ra đời từ đó.
Phiên bản đầu tiên được thử nghiệm và giới thiệu đến công chúng vào năm 1966 dựa trên công trình nghiên cứu tại tập đoàn Erie Technological. Năm 1973, SWOT được sử dụng tại J W French Ltd và thực sự phát triển từ đây. Đầu năm 2004, SWOT đã được hoàn thiện và cho thấy khả năng 10 hữu hiệu trong việc đưa ra cũng như thống nhất các mục tiêu của tổ chức mà không cần phụ thuộc vào tư vấn hay các nguồn lực tốn kém khác. Vai trò và ý nghĩa của ma trận SWOT “ Một trong những kỹ năng quan trọng nhất mà nhà quản trị doanh nghiệp cần nắm vững là sử dụng ma trận SWOT.
Đây là một công cụ phân tích giúp nhà lãnh đạo hiểu rõ vấn đề và đưa ra quyết định hiệu quả trong việc tổ chức và quản lý. Ma trận SWOT giúp giảm căng thẳng, nâng cao khả năng ra quyết định và tối ưu hóa hiệu quả cá nhân. Phân tích ma trận SWOT là một kỹ thuật phân tích quan trọng giúp doanh nghiệp xác định dễ dàng các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến sự phát triển của mình. Nó cho phép đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức một cách chi tiết.
Phân tích ma trận SWOT mang ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tình hình và phân tích cơ hội, thách thức mà doanh nghiệp đang đối mặt. Công cụ phân tích ma trận SWOT đơn giản nhưng mang lại nhiều giá trị. Nó giúp nhà quản trị có cái nhìn tổng quan về tình hình hiện tại và tương lai của doanh nghiệp. Bằng cách áp dụng ma trận SWOT một cách thành công, nhà quản trị có thể trở thành chuyên gia trong việc phân tích và đánh giá tình huống.
Mô hình phân tích ma trận SWOT là một công cụ hữu ích để đưa ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào. Nó cung cấp cái nhìn chiến lược, đánh giá vị trí và định hướng của doanh nghiệp hoặc dự án kinh doanh. Ma trận SWOT cũng phù hợp trong việc làm việc và phân tích nhóm, được sử dụng trong lập kế hoạch kinh doanh, xây dựng chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, tiếp thị, phát triển sản phẩm và dịch vụ. Phân tích ma trận SWOT giúp nhà quản trị xem xét tất cả các cơ hội mà doanh nghiệp có thể tận dụng.
Đồng thời, bằng cách hiểu điểm yếu của doanh nghiệp, nhà quản trị có thể quản lý và loại bỏ rủi ro mà họ chưa nhận thức. 11 Hơn nữa, bằng cách so sánh và phân tích ma trận SWOT giữa doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh, nhà quản trị có thể phát triển một chiến lược để tạo sự khác biệt và cạnh tranh hiệu quả trên thị trường. ” Tóm lại, ma trận SWOT là một công cụ quan trọng và hữu ích cho nhà quản trị doanh nghiệp. Nó giúp nhìn nhận tổng quan về doanh nghiệp, đưa ra quyết định thông minh và xác định hướng phát triển cho tương lai.
Chiến lược và hoạch định chiến lược kinh doanh trong doanh nghiệp 1. Chiến lược và hoạch định chiến lược kinh doanh trong doanh nghiệp 1. Chiến lược kinh doanh - Chiến lược Chiến lược xuất phát từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa “nghệ thuật tổng hợp”, đầu tiên được sử dụng trong lĩnh vực quân sự, liên quan tới việc cách dàn quân, tổ chức các trận đánh trong chiến tranh. Trong thời Hy Lạp cổ đại (năm 450 trước Công nguyên), chiến lược thể hiện cách thức mà các tướng lĩnh sử dụng để đánh bại kẻ thù.
Nếu Clausewitz (1780 - 1831) cho rằng “chiến lược là nghệ thuật chỉ huy trận đấu nhằm giành được thắng lợi” thì Molke (1800 - 1891) lại cho rằng “chiến lược là sự quản lý để thích ứng với thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu”. Năm 1967, Liddell Hart kết hợp 2 định nghĩa trên và cho rằng “chiến lược là nghệ thuật phân phối và áp dụng các biện pháp quân sự để đạt được mục tiêu” [14; tr. Khái niệm chiến lược sau đó được nhiều nhà nghiên cứu phát triển, ứng dụng trong hoạt động quản trị kinh doanh. Nếu Barnard (1938) cho rằng “chiến lược nhắm tới việc đạt được hiệu quả của tổ chức, là sự phù hợp giữa mục tiêu với yếu tố môi trường bên trong, bên ngoài”; thì Chandler (1962) cho rằng “chiến lược là sự quyết định về các mục tiêu dài hạn và tập hợp các hành động, phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu”.
Năm 1979, George Steiner định nghĩa “chiến lược là các quyết định mang tính định hướng cơ bản nhằm đạt được mục đích, sứ mệnh”, “chiến lược gồm nhiều hành động quan trọng cần thiết để đạt mục tiêu”. Mintzberg 12 (1994) định nghĩa “chiến lược là một kế hoạch, phương tiện để đạt mục tiêu, là cách thức tiếp cận mà doanh nghiệp sử dụng”. Porter nhấn mạnh tới sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Ông cho rằng chiến lược là cạnh tranh.
“Chiến lược cạnh tranh là trở nên khác biệt. Điều đó có nghĩa doanh nghiệp cần chọn lọc kỹ càng tập hợp các giá trị khác biệt, làm nên sự độc đáo của doanh nghiệp”. Porter cũng nói rằng chiến lược thể hiện vị thế cạnh tranh trên thị trường, là định vị bản thân doanh nghiệp trong mắt khách hàng cũng như những giá trị mà doanh nghiệp mang lại vượt trội so với đối thủ cạnh tranh. Doanh nghiệp cần biến mình trở thành duy nhất, chứ không phải biến mình trở thành số 1 [15, tr.
Ngoài ra, có thể kể tới một số khái niệm khác nữa về chiến lược mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra như: “Chiến lược là tập hợp các quyết định thể hiện mục đích, mục tiêu của doanh nghiệp, được thực hiện thông qua các kế hoạch; phản ánh các loại hình kinh doanh, đóng góp xã hội cũng như giá trị mang lại cho cổ đông, nhân viên, khách hàng và cộng đồng mà doanh nghiệp dự kiến thực hiện” [19, Tr. “Chiến lược là một tập hợp các mục tiêu thể hiện bản chất của doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai” [20, tr. “Chiến lược được sử dụng để phân bổ nguồn lực dựa trên nhu cầu của tổ chức. Cụ thể liên quan tới năng lực cốt lõi, sự thay đổi của môi trường, cũng như sự cạnh tranh trên thị trường” [21, tr.15] Từ những khái niệm trên có thể thấy, chiến lược là cách thức nhằm giúp doanh nghiệp kết nối giữa chính sách và mục tiêu, đảm bào phù hợp với sự biến đổi của môi trường kinh doanh.
- Chiến lược kinh doanh Theo Alfred Chandler - giáo sư người Mỹ (thuộc Đại học Harvard) “Chiến lược kinh doanh bao gồm việc ấn định các mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động và 13 phân bổ các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”. Chiến lược cần được định ra như là kế hoạch sơ đồ tác nghiệp tổng quát chỉ hướng cho tổ chức đi đến mục đích mong muốn.