CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ SỬ DỤNG TẬP MỜ TRONG LẬP TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN DỰ ÁN XÂY DỰNG 1. Quản lý đầu tư xây dựng tại Việt Nam và tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long 1. Quản lý đầu tư xây xây dựng tại Việt Nam Trong xu hướng hội nhập khu vực hoá, toàn cầu hoá trong mọi lĩnh vực kinh tế và cả lĩnh vực đầu tư xây dựng, công tác quản lý đầu tư xây dựng của nước ta ngày càng trở nên phức tạp đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều đối tác và nhiều Bộ liên quan.
Do đó, công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng đòi hỏi phải có sự phát triển sâu rộng, và mang tính chuyên nghiệp hơn mới có thể đáp ứng nhu cầu xây dựng các công trình ở nước ta trong thời gian tới. Thực tiễn đó đã thúc đẩy ra đời một “nghề” mới mang tính chuyên nghiệp thực sự: Quản lý dự án, một nghề đòi hỏi tính tổng hợp và chuyên nghiệp từ các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động. Bước sang giai đoạn từ năm 2001 đến nay, cùng với nền kinh tế cả nước trên đà phát triển mạnh và hội nhập sâu hơn, rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới, ngành Xây dựng đã tổ chức và thực hiện có hiệu quả các chiến lược, Quy hoạch và Kế hoạch phát triển dài hạn trong các lĩnh vực của Ngành như: Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển các đô thị Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050; Chiến lược phát triển nhà ở đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Quy hoạch xây dựng các vùng kinh tế trọng điểm, vùng tỉnh và các đô thị; Quy hoạch tổng thể phát triển VLXD, xi măng, cùng với các Chiến lược, định hướng về cấp nước, thoát nước, quản lý chất thải rắn đô thị.trên phạm vi cả nước với mục tiêu đảm bảo sự phát triển ngành Xây dựng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo định hướng phát triển bền 8 vững. Ngành Xây dựng đã có những bước tiến đáng kể theo hướng hiện đại, cả trong lĩnh vực xây dựng công trình, vật liệu xây dựng, kiến trúc và quy hoạch xây dựng, phát triển đô thị và nhà ở; năng lực xây dựng công trình có nhiều tiến bộ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu về xây dựng, kể cả những công trình quy mô lớn, đòi hỏi chất lượng cao, công nghệ hiện đại ở trong và ngoài nước.
Năm 2020, ngành xây dựng Việt Nam là ngành hoạt động tốt nhất trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (APAC) (Thị trường xây dựng Việt Nam đạt giá trị 57,52 tỷ USD vào năm 2020) [48]. Cùng với Luật Xây dựng, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh Bất động sản, Luật Quy hoạch đô thị, Luật Kiến trúc cũng đã được ban hành và có hiệu lực, tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý quy hoạch, phát triển đô thị, nhà ở và thị trường bất động sản. Trong những năm qua, Bộ Xây dựng tập trung chỉ đạo hoàn thành, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nhiều dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, ngoài ra, Bộ cũng đã ban hành theo thẩm quyền nhiều Thông tư, Quyết định thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ. Trong lĩnh vực quản lý đầu tư xây dựng, cơ chế quản lý đầu tư xây dựng tiếp tục được đổi mới một cách căn bản, toàn diện theo cơ chế thị trường, phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập.
Hệ thống quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng được ban hành cho tất cả các lĩnh vực xây dựng, các đối tượng tiêu chuẩn hóa đã bao quát hầu hết các hoạt động xây dựng. Hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật trong xây dựng được hoàn thiện cơ bản theo hướng Nhà nước quản lý định mức kinh tế - kỹ thuật, thị trường quyết định giá cả để phù hợp với thực tế thi công xây dựng, tiến tới thực hiện giá cả xây dựng theo thị trường. Hệ thống pháp luật ngành Xây dựng tiếp tục được tập trung rà soát, nghiên cứu, hoàn thiện và đổi mới với các quan điểm, tư tưởng chủ đạo như: đảm bảo tính đồng bộ; nâng cao chất lượng, phù hợp với thực tiễn, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong các lĩnh vực của Ngành, đặc biệt là trong lĩnh vực QLDA đầu tư xây dựng; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo môi 9 trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi nhằm thu hút và phát huy mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, đồng thời cũng tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành; hạn chế thất thoát, lãng phí, tiêu cực, nhất là đối với các dự án có sử dụng vốn NSNN. Cùng với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, lĩnh vực phát triển đô thị đã có những bước phát triển vượt bậc, hệ thống đô thị Việt Nam đã và đang từng bước phát triển theo hướng bền vững, mở rộng về quy mô, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật – xã hội phù hợp, đồng bộ, hiện đại, diện mạo đô thị đã có nhiều thay đổi, chất lượng đô thị ngày càng được nâng cao.
Hệ thống đô thị quốc gia ngày càng được mở rộng, phát triển nhanh cả về quy mô, số lượng và chất lượng. Các đô thị đã thực sự đóng vai trò trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện và bền vững đất nước, tiếp tục khẳng định vai trò là động lực phát triển kinh tế, là hạt nhân thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở mỗi địa phương, mỗi vùng và cả nước. Hàng loạt các dự án xây dựng các khu đô thị mới đã và đang được triển khai theo mô hình đầu tư xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và các công trình kiến trúc mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội, tạo ra hướng phát triển mới cho các đô thị. Bên cạnh đó, các chương trình phát triển nhà ở quốc gia như Chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng thường xuyên ngập lũ Đồng bằng sông Cửu Long; Chương trình hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở; Chương trình nhà ở cho người thu nhập thấp và Chương trình nhà ở cho công nhân các khu công nghiệp.
cũng được triển khai mạnh mẽ, đã góp phần làm cho diện tích nhà ở tăng nhanh; chất lượng nhà ở được cải thiện, từng bước đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt của nhân dân. Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp đã tiếp cận nhanh với công nghệ xây dựng mới, trang bị thêm nhiều thiết bị hiện đại, từng bước đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý, tư vấn, thi công xây dựng những công trình quy mô lớn, hiện 10 đại. Lực lượng thi công cầu đường, công trình ngầm của các doanh nghiệp xây dựng đã có sự phát triển vượt bậc về trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại và năng suất lao động. Đến nay, các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam đã làm chủ công nghệ thiết kế, thi công các công trình cao tầng, công trình nhịp lớn, công trình ngầm, công trình trên nền địa chất phức tạp.
Năng lực quản lý, kể cả quản lý hợp đồng tổng thầu EPC, quản lý đầu tư theo hình thức BOT, BT, BOO các công trình xây dựng có tiến bộ vượt bậc. Các doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng hoặc nhận thầu xây dựng ở hầu hết các công trình trọng điểm Nhà nước, các công trình quan trọng của quốc gia, của các Bộ, ngành, địa phương, của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hoặc của Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, đó là những công trình nhà cao tầng tại các khu đô thị mới. Như vậy có thể thấy rằng ngành Xây dựng đã góp phần to lớn vào việc hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của đất nước, từng bước đổi mới, phát triển và hội nhập khu vực và quốc tế. Tình hình đầu tư xây dựng tại Đồng Bằng Sông Cửu Long Kế hoạch nguồn vốn đầu tư công giai đoạn 2016-2020 giao cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long là gần 184.
Trong đó, phần vốn của Bộ NN&PTNT quyết định đầu tư tại ĐBSCL có tổng số vốn khoảng 28.200 tỷ đồng, chiếm khoảng 29% tổng vốn đầu tư công trung hạn của Bộ NN&PTNT quản lý. Kết quả giữa kỳ, tổng nguồn vốn đã giao là 105.000 tỷ đồng; trong đó, ngân sách Trung ương giao 36.171 tỷ đồng (51%), ngân sách địa phương giao 69.123 tỷ đồng (61%) so với tổng số vốn trung hạn 2016-2020. Năm 2019, tổng nhu cầu vốn được 19 địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long g và Đông Nam Bộ đề xuất thực hiện đầu tư công là 136.507,5 tỷ đồng, tăng 11,4% so với kế hoạch của năm 2018 và bằng 69% kế hoạch trung hạn 2019-2020 còn lại [2]. Gần 1/3 vốn đầu tư công trung hạn được Bộ NN&PTNT đầu tư vào ĐBSCL để làm các công trình và hạ tầng nông nghiệp cho vùng này để giải quyết một số vấn đề về hạn hán, ngập mặn.
Một số công trình, dự án lớn, điển 11 hình trong giai đoạn trung hạn 2016-2020 đã hoàn thành, phát huy hiệu quả đầu tư như: Dự án Nạo vét kênh Mây Phốp - Ngã Hậu tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh; dự án hệ thống thủy lợi trạm bơm cống Xuân Hòa tỉnh Tiền Giang, Long An; dự án Cống âu thuyền Ninh Quới tỉnh Bạc Liêu, dự án Chuyển đổi nông nghiệp bền vững VnSat. Bên cạnh đó, việc phân bổ vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước tại Đồng Bằng Sông Cửu Long tập trung ưu tiên bố trí cho các dự án lớn, trọng điểm tại một số tỉnh. Tại An Giang, triển khai dự án thủy lợi phục vụ nông nghiệp phát triển nông thôn vùng Bắc Vàm Nao (An Giang); nâng cấp tuyến đường liên tỉnh nối từ huyện Châu Phú – An Giang qua khu vực tứ giác Long Xuyên nối với huyện Hòn Đất – Kiên Giang; mở rộng bệnh viện Tim Mạch An Giang… Tại Long An, triển khai theo kế hoạch đề ra, có 14 công trình giao thông tại Chương trình huy động nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông phục vụ phát triển công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm, đã hoàn thành 07 công trình, 07 công trình đang triển khai như: Trục động lực Tiền Giang – Long An – TP.