Tổng quan nghiên cứu
Thị trường truyền hình trả tiền tại Việt Nam giai đoạn 2009–2013 chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc với tổng doanh thu toàn ngành tăng từ gần 2,0 tỷ USD năm 2011 lên 2,5 tỷ USD vào năm 2012, tương đương khoảng 53.000 tỷ đồng. Mặc dù số lượng thuê bao toàn quốc đạt mốc 4,1 triệu thuê bao, tỷ lệ thâm nhập dịch vụ mới chỉ chiếm khoảng 20% trên tổng số 20 triệu hộ gia đình cả nước. Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ lớn và lộ trình số hóa quốc gia theo Quyết định số 22/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Tổng công ty Truyền thông Đa phương tiện VTC – đơn vị tiên phong áp dụng công nghệ truyền hình số từ năm 2000 – đối mặt với tình trạng suy giảm thị phần và gia tăng tỷ lệ khách hàng rời bỏ dịch vụ.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ cơ chế ứng dụng hệ thống đổi mới vào doanh nghiệp nhằm giải quyết điểm nghẽn giữa nghiên cứu phát triển công nghệ và hoạt động kinh doanh thương mại. Mục tiêu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về hệ thống đổi mới doanh nghiệp; phân tích thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ truyền hình tại VTC giai đoạn 2009–2013; từ đó đề xuất mô hình vườn ươm sáng tạo khoa học và công nghệ nhằm tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm dịch vụ.
Nghiên cứu được thực hiện tại Tổng công ty VTC, trọng tâm là Công ty VTC Dịch vụ Truyền hình số (VTC Digital) và Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học giúp VTC tái cơ cấu năng lực công nghệ, tối ưu hóa 100% chuỗi giá trị từ khâu ý tưởng đến thương mại hóa, tạo tiền đề nâng tỷ lệ thâm nhập thuê bao truyền hình số đạt mục tiêu 25% toàn thị trường vào năm 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết đổi mới hiện đại khởi xướng bởi Joseph Schumpeter từ năm 1912, phân định rõ giữa sáng chế kỹ thuật thuần túy và đổi mới sáng tạo như một quá trình kinh tế đưa tri thức vào thương mại hóa để sinh lời. Nghiên cứu tích hợp lý thuyết hệ thống đổi mới quốc gia của Bengt-Åke Lundvall, Christopher Freeman và Richard Nelson (1993), đồng thời kế thừa mô hình 5 nguồn gốc đổi mới của Allan Afuah (2003) và tiếp cận hệ thống đổi mới doanh nghiệp của các chuyên gia quản lý khoa học công nghệ tại Việt Nam như Vũ Cao Đàm và Nguyễn Mạnh Quân.
Khung phân tích vận dụng 4 khái niệm cốt lõi:
- Đổi mới (Innovation): Quá trình chuyển hóa ý tưởng khoa học kỹ thuật thành sản phẩm, dịch vụ hoặc quy trình mới được thị trường chấp nhận và mang lại hiệu quả kinh tế.
- Hệ thống đổi mới doanh nghiệp: Tập hợp hữu cơ gồm tổ chức nghiên cứu và phát triển (R&D), hạ tầng thông tin, hạ tầng công nghệ, hạ tầng công nghiệp và cơ chế tài chính lấy doanh nghiệp làm trung tâm.
- Công nghệ truyền hình theo mô hình Sharif: Chỉnh thể bao gồm 4 thành phần tương tác mật thiết là Kỹ thuật (Technoware), Con người (Humanware), Thông tin (Inforware) và Tổ chức (Orgaware).
- Quy trình đổi mới 5 giai đoạn: Chu trình phi tuyến tính xuất phát từ thị trường gồm Phân tích cơ hội, Sáng tạo ý tưởng, Đánh giá ý tưởng, Phát triển ý tưởng và Thương mại hóa sản phẩm.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp các nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp được thu thập trong giai đoạn 2009–2013. Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm báo cáo tài chính nội bộ của VTC, báo cáo cạnh tranh ngành truyền hình của Bộ Công Thương năm 2012, các văn bản quy phạm pháp luật như Quyết định số 22/2009/QĐ-TTg và Quyết định số 20/2011/QĐ-TTg.
Về phương pháp phân tích, tác giả kết hợp ba phương pháp chủ đạo:
- Phương pháp phân tích tài liệu: Khảo cứu hệ thống hóa các chủ trương chính sách, tài liệu lý luận quản lý công nghệ và dữ liệu hoạt động kinh doanh.
- Phương pháp quan sát khoa học: Khảo sát trực tiếp quy trình vận hành công nghệ, cơ sở vật chất và môi trường làm việc tại Trung tâm R&D và VTC Digital.
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia và quản lý: Thực hiện phỏng vấn sâu với cỡ mẫu gồm 12 đối tượng, bao gồm 10 cán bộ quản lý, chuyên viên kỹ thuật tại Tổng công ty VTC và 2 chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực truyền thông đa phương tiện.
Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được lựa chọn nhằm đảm bảo thu thập thông tin định tính chuyên sâu, bóc tách chính xác các nút thắt cơ chế quản lý mà số liệu định lượng đơn thuần không phản ánh được.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, mức độ tập trung thị phần trong ngành truyền hình trả tiền tại Việt Nam ở mức rất cao. Bốn doanh nghiệp dẫn đầu nắm giữ tới 85% tổng thị phần với 4,1 triệu thuê bao toàn quốc. SCTV dẫn đầu với 1.500.000 thuê bao (chiếm khoảng 36,6%), tiếp đến là VTVcab đạt 800.000 thuê bao (19,5%), MyTV đạt 800.000 thuê bao (19,5%), trong khi VTC chỉ đạt 400.000 thuê bao (chiếm 9,8%), tương đương quy mô của K+ (400.000 thuê bao) và vượt AVG (150.000 thuê bao).
Thứ hai, dung lượng thị trường còn khoảng trống tăng trưởng rất lớn nhưng tốc độ phát triển thuê bao của VTC có dấu hiệu chững lại. Tỷ lệ phủ sóng truyền hình trả tiền của Việt Nam mới đạt 20% tổng số 20 triệu hộ gia đình, thấp hơn nhiều so với mức trung bình 40% - 60% tại các quốc gia châu Á. Doanh thu quảng cáo truyền hình toàn quốc tăng từ 850 triệu USD năm 2011 lên hơn 1 tỷ USD năm 2012, nhưng nguồn thu từ thuê bao của VTC Digital lại suy giảm do áp lực cạnh tranh khốc liệt về giá cước và bản quyền nội dung.
Thứ ba, sự thiếu gắn kết trầm trọng giữa hoạt động R&D và định hướng thị trường tại doanh nghiệp. Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ của VTC thực hiện nhiều dự án kỹ thuật nhưng mang nặng tính hành chính, thiếu sự kết nối khép kín với đơn vị kinh doanh là VTC Digital. Quy trình R&D dừng lại ở chế tạo mẫu thử nghiệm đơn lẻ, chưa hoàn thiện giai đoạn sản xuất loạt thử nghiệm quy mô công nghiệp để nhanh chóng đưa sản phẩm ra thị trường.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi của các hạn chế trên xuất phát từ việc VTC tiếp cận hoạt động khoa học công nghệ theo tư duy tuyến tính truyền thống, coi R&D là một khâu độc lập thay vì vận hành theo một hệ thống đổi mới đồng bộ lấy thị trường làm động lực. Các dữ liệu về cơ cấu thị phần và kết quả kinh doanh có thể được mô hình hóa qua bảng tổng hợp so sánh tương quan thuê bao giữa 6 nhà cung cấp dịch vụ chính và sơ đồ chuỗi giá trị tương tác giữa R&D – Sản xuất – Tiếp thị.
So sánh với mô hình đổi mới tại các nước thuộc khối OECD, các doanh nghiệp hàng đầu luôn duy trì đầu tư cho R&D từ 3% đến 5% doanh thu và gắn chặt kết quả nghiên cứu với chỉ số hài lòng của khách hàng. Trong khi đó, tại VTC, cơ chế lương thưởng và chính sách phân bổ nguồn vốn chưa tạo đủ động lực cho cán bộ nghiên cứu. Việc thiếu vắng không gian liên kết thử nghiệm khiến các ý tưởng sáng tạo không thể chuyển hóa thành các gói dịch vụ giá trị gia tăng như truyền hình theo yêu cầu hay truyền hình độ phân giải cao HDTV với chi phí tối ưu.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, thiết lập và vận hành Vườn ươm sáng tạo khoa học và công nghệ nội bộ tại Tổng công ty VTC trong giai đoạn 2014–2016. Ban Tổng Giám đốc VTC giữ vai trò chủ trì phê duyệt đề án, giao Trung tâm R&D phối hợp cùng VTC Digital triển khai không gian ươm tạo nhằm giảm 30% thời gian chuyển giao công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường thương mại.
Thứ hai, tái cấu trúc tổ chức và chuyển đổi cơ chế quản lý R&D từ mô hình tuyến tính sang mô hình đổi mới mở trước quý 4 năm 2015. Tổng công ty cần liên kết trực tiếp các nhóm nghiên cứu với các bộ phận kinh doanh nội dung số, viễn thông và truyền hình số, đảm bảo 100% đề tài nghiên cứu kỹ thuật phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của khách hàng và có cam kết thương mại hóa.
Thứ ba, hoàn thiện hạ tầng công nghệ và đầu tư nguồn lực tài chính cho hoạt động đổi mới giai đoạn 2015–2018. Khối Tài chính Kế toán và Hội đồng Thành viên cần trích lập Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ tương đương 3% đến 5% lợi nhuận trước thuế hàng năm, đồng thời áp dụng chính sách lương thưởng gắn liền với hiệu quả doanh thu sản phẩm mới nhằm thu hút chuyên gia công nghệ xuất sắc.
Thứ tư, đẩy mạnh phát triển sản phẩm dịch vụ mới trên nền tảng hội tụ công nghệ truyền hình, Internet và viễn thông di động đến năm 2020. VTC Digital cần tập trung nâng cấp hệ thống truyền dẫn phát sóng vệ tinh DTH và mặt đất DVB-T2, đa dạng hóa gói kênh chuẩn HD và phát triển dịch vụ truyền hình tương tác nhằm mục tiêu nâng số lượng thuê bao hoạt động ổn định từ 400.000 lên mốc 800.000 thuê bao vào năm 2018.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Ban lãnh đạo và nhà quản lý doanh nghiệp truyền thông, viễn thông: Luận văn cung cấp khung chiến lược đổi mới toàn diện giúp các nhà điều hành nhận diện nguy cơ suy giảm thị phần, tái cấu trúc bộ máy R&D và thiết lập mô hình vườn ươm doanh nghiệp để duy trì năng lực cạnh tranh dài hạn.
- Giám đốc R&D và chuyên gia phát triển sản phẩm công nghệ: Cung cấp phương pháp luận quản lý công nghệ theo mô hình 4 thành phần Sharif, giúp đội ngũ kỹ thuật chuyển đổi từ tư duy nghiên cứu thuần túy sang quy trình phát triển sản phẩm 5 giai đoạn định hướng thị trường.
- Cơ quan hoạch định chính sách thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông: Nguồn tư liệu thực tiễn phục vụ việc hoàn thiện thể chế quản lý khoa học công nghệ, đánh giá tác động của Đề án số hóa truyền hình quốc gia đến năm 2020 đối với các tổng công ty nhà nước.
- Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ: Tài liệu tham khảo học thuật giá trị về ứng dụng lý thuyết hệ thống đổi mới cấp doanh nghiệp, cung cấp hệ thống dữ liệu điển cứu chi tiết về thị trường truyền hình trả tiền tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
Hệ thống đổi mới trong doanh nghiệp khác gì so với hoạt động R&D truyền thống?
R&D truyền thống tập trung chủ yếu vào khâu nghiên cứu kỹ thuật và kết thúc khi sáng chế được cấp bằng hoặc chế tạo xong mẫu thử nghiệm. Ngược lại, hệ thống đổi mới lấy doanh nghiệp làm trung tâm, bao gồm toàn bộ chuỗi liên kết từ R&D, sản xuất, tiếp thị đến phân phối nhằm tạo ra sản phẩm được thị trường chấp nhận và sinh lời.
Tại sao VTC cần xây dựng mô hình vườn ươm công nghệ nội bộ?
Vườn ươm công nghệ tạo ra không gian thử nghiệm linh hoạt, giúp VTC kết nối nhà khoa học với thị trường. Mô hình này giúp doanh nghiệp sàng lọc ý tưởng sáng tạo, thử nghiệm sản xuất loạt số không và kiểm định dịch vụ mới trước khi tung ra thị trường diện rộng, hạn chế tối đa rủi ro tài chính khi thương mại hóa.
Lộ trình số hóa truyền hình theo Quyết định 22/2009/QĐ-TTg tác động thế nào đến VTC?
Quyết định 22/2009/QĐ-TTg đặt ra lộ trình 4 giai đoạn chuyển đổi hoàn toàn sang truyền hình số trước năm 2021. Điều này buộc VTC phải ngừng phát sóng analog tại 5 thành phố lớn trước ngày 31/12/2015, tạo áp lực đổi mới công nghệ truyền dẫn phát sóng mặt đất DVB-T2 nhưng đồng thời mở ra cơ hội giải phóng băng tần để phát triển dịch vụ đa phương tiện.
Bốn thành phần công nghệ Sharif được biểu hiện ra sao trong dịch vụ truyền hình?
Trong ngành truyền hình, Technoware là hệ thống máy phát sóng, đầu thu số và studio; Humanware là trình độ kỹ sư phát sóng và biên tập viên; Inforware là dữ liệu số hóa, chuẩn nén tín hiệu và lịch phát sóng điện tử EPG; Orgaware là cơ cấu tổ chức quản lý và quy trình phối hợp liên phòng ban trong doanh nghiệp.
Doanh nghiệp giải quyết rủi ro tài chính trong đầu tư R&D đổi mới sáng tạo như thế nào?
Để tránh mất cân bằng dòng tiền, doanh nghiệp cần thiết lập quỹ phát triển khoa học công nghệ độc lập thay vì lạm dụng vốn lưu động. Đồng thời, VTC cần đa dạng hóa nguồn tài trợ thông qua liên kết với quỹ đầu tư mạo hiểm, hợp đồng nghiên cứu đặt hàng từ cơ quan nhà nước và cơ chế chia sẻ rủi ro cùng các đối tác công nghệ.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện lý luận về hệ thống đổi mới trong doanh nghiệp và khẳng định vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong quá trình thương mại hóa tri thức khoa học công nghệ.
- Phân tích thực trạng thị trường truyền hình trả tiền Việt Nam giai đoạn 2009–2013, làm rõ vị thế chiếm 9,8% thị phần với 400.000 thuê bao của VTC cùng những điểm nghẽn trong cơ chế quản lý R&D nội bộ.
- Đóng góp trọng tâm là đề xuất thành công mô hình Vườn ươm sáng tạo khoa học và công nghệ tại VTC, tạo cầu nối khép kín giữa nghiên cứu phát triển và kinh doanh thương mại.
- Xác định lộ trình triển khai tái cấu trúc hệ thống đổi mới theo 4 giai đoạn cụ thể từ năm 2014 đến năm 2020, gắn liền với kế hoạch số hóa truyền hình quốc gia.
- Doanh nghiệp cần khẩn trương chuyển đổi tư duy quản lý, coi đổi mới sáng tạo là giá trị văn hóa cốt lõi để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững trong kỷ nguyên hội tụ số.