MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trẻ em là mầm non tương lai của đất nước. Chính vì vậy, trẻ cần được chăm sóc và giáo dục ngay từ lứa tuổi đầu đời để tiếp bước cha anh làm chủ xã hội. Tuy nhiên, không phải mọi trẻ em sinh ra đều có cuộc sống bình thường, bên cạnh những ―Bé khoẻ, bé ngoan‖ vẫn còn những em bé khuyết tật, sinh ra với những khiếm khuyết về thể chất, tinh thần khiến các em gặp nhiều khó khăn,bất hạnh trong cuộc sống.
Theo số liệu điều tra dân số năm 2009, hiện nay ước tính cả nước có khoảng 5,1 triệu người khuyết tật, trong đó có khoảng 1,2 triệu trẻ khuyết tật và chỉ có 66,5% trẻ khuyết tật trong độ tuổi đi học được tới trường, trong khi tỷ lệ bình quân của trẻ em trên toàn quốc là 97%. Các cơ sở chăm sóc ở Việt Nam vẫn chưa được trang bị tốt để chăm sóc cho trẻ khuyết tật. Hệ thống hiện hành chủ yếu tập trung vào chăm sóc tại các cơ sở tập trung. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển giáo dục, hệ thống quản lý giáo dục trẻ khuyết tật được hình thành ở 64 tỉnh, thành phố và bước đầu đi vào hoạt động.
Hiện nay, trẻ khuyết tật đã được tạo điều kiện học tập cùng các trẻ bình thường trong lớp hòa nhập. Đã có nhiều phương pháp giáo dục đặc biệt được áp dụng cho trẻ khuyết tật trong các trường học, trung tâm và cũng đạt được kết quả nhất định. Tuy nhiên, việc tạo cơ hội cho các trẻ khuyết tật ở các dạng tật khác nhau được học, được chơi cùng nhau và được chơi cùng với các bạn bình thường vẫn là một trong những khó khăn lớn của các giáo viên tại các trường học và trung tâm đó. Thực trạng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn.
Như đội ngũ giáo viên dạy trẻ khuyết tật hòa nhập còn thiếu, chưa được đào tạo chuyên sâu về giáo dục đặc biệt, vấn đề điều chỉnh nội dung, phương pháp giáo dục cho trẻ khuyết tật còn nhiều hạn chế, cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ đặc thù cho trẻ khuyết tật học hòa nhập chưa đáp ứng được yêu cầu. Như vậy, từ thực trạng nêu trên có thể thấy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật đang là vấn đề cấp thiết cần được xã hội quan tâm, nhất là những trẻ em đang ở lứa tuổi mầm non. Giáo dục hòa nhập không chỉ là đưa trẻ khuyết tật vào một chương trình giáo dục chung với trẻ bình thường mà là thiết lập những kế hoạch hoạt động rõ ràng để đảm bảo cho trẻ khuyết tật được tham gia đầy đủ và tích cực những hoạt động trong lớp học, việc làm này có vai trò rất quan trong trong việc tạo cơ hội cho trẻ khuyết tật được tham gia, được công nhận như những trẻ em khác. Tại trường mầm non Thăng Long Kidsmart, việc tổ chức chương trình giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật mang ý nghĩa nhân văn to lớn nhằm giúp đỡ những trẻ khuyết tật có khả năng học hòa nhập.
Tuy nhiên đây là trường học mới thành lập, đội ngũ giáo viên chuyên ngành giáo dục đặc biệt còn mỏng, trong khi giáo viên mầm non lại chưa có nhiều kinh nghiệm, phương pháp làm việc với trẻ khuyết tật, cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động chuyên biệt còn thiếu, số trẻ khuyết tật cùng độ tuổi còn chưa tập trung vào một lớp, những phụ huynh có trẻ khuyết tật vẫn 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chưa nhận rõ vai trò và trách nhiệm của mình, nhiều phụ huynh của trẻ bình thường cũng tỏ thái độ không hài lòng khi con của họ học cùng các bạn khuyết tật. Bắt nguồn từ những thực trạng khó khăn của trẻ khuyết tật nói chung và những khó khăn của trẻ khuyết tật tại trường mầm non Thăng Long Kidsmart nói riêng, là một người được đào tạo chuyên ngành Công tác xã hội, tôi xin lựa chọn đề tài: ― Ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ dạy học cho trẻ khuyết tật tại trường mầm non Thăng Long Kidsmart” nhằm tìm ra những phương pháp phù hợp hỗ trợ cho trẻ trong các hoạt động tại trường hòa nhập từ đó có những giải pháp kịp thời giúp cho trẻ khuyết tật học hòa nhập ngày càng có cơ hội hơn trong chính môi trường xã hội mà trẻ đang sống. Tổng quan về đề tài nghiên cứu Nghiên cứu về TKT nói chung và công tác xã hội nhóm với trẻ khuyết tật nói riêng ở Việt Nam hầu như mới chỉ được bắt đầu vào khoảng thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Từ năm 2000 trở lại đây, vấn đề TKT đã được nhiều ngành quan tâm nghiên cứu như tâm lý học, giáo dục học, y học.
Một loạt các trung tâm nuôi dạy TKT ra đời, các bệnh viện mở ra các khoa để can thiệp cho TKT, các Trường học mở ra các lớp học chăm sóc – GDTKT là những điều kiện thuận lợi cho các nghiên cứu này. - Nghiên cứu về GDHN cho trẻ khuyết tật Năm 2000, tác giả Trịnh Đức Duy trong cuốn ―Dạy học hoà nhập cho trẻ khuyết tật” đã nhấn mạnh: Trong GDHN, gia đình, nhà trường, xã hội và cộng đồng cần tạo ra sự hợp tác và giúp đỡ trẻ trong mọi hoạt động. Trẻ khuyết tật là trung tâm của quá trình giáo dục, được tham gia đầy đủ và bình đẳng trong mọi công việc của Nhà trường, Gia đình, Xã hội và cộng đồng [7]. Năm 2003, tác giả Hoàng Thị Phương [17] trong công trình ―Một số biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5 – 6 tuổi‖, đã khai thác giao tiếp dưới góc độ hành vi văn hóa sơ đẳng nhưng là cơ bản, phổ biến, đặc trưng cho lứa tuổi mẫu giáo lớn.
Đó là những kỹ năng mang tính nền tảng làm cơ sở để giáo dục và phát triển sau này cho trẻ ở cấp tiểu học. Từ tháng 5 năm 2006 đến tháng 5 năm 2008 Đề tài câp bộ ―Xây dựng mô hình trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật‖ Mã số: B2006- 37-22 của Nhóm nghiên cứu: CNĐT- TS. Lê Văn Tạc thực hiện với Mục đích nghiên cứu là xây dựng mô hình trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật phù hợp với điều kiện Việt Nam nhằm góp phần thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục trẻ khuyết tật. Đề tài cấp bộ ―Xây dựng chương trình bồi dưỡng kĩ năng đặc thù cho giáo viên dạy học các nhóm trẻ khuyết tật khác nhau‖ Mã số: B2006-37-24 Nhóm nghiên cứu: CNĐT- ThS.
Phạm Minh Mục; Thời gian thực hiện: 6/2006 đến 6/2008 Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng trong lĩnh vực giáo dục trẻ khuyết tật, nghiên cứu thực trạng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy trẻ khuyết tật, thực trạng giáo viên sử dụng kỹ năng đặc thù của giáo viên 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đang trực tiếp dạy trẻ khuyết tật, kết quả học tập của học sinh khuyết tật nhằm định hướng và đề xuất xây dựng chương trình bồi dưỡng kỹ năng đặc thù cho giáo viên dạy học các nhóm trẻ khuyết tật khác nhau. Năm 2007, Năm 2008, tác giả Đào Thu Thủy với đề tài ―Xây dựng bài tập phát triển giao tiếp tổng thể cho trẻ Tự kỷ tuổi mầm non‖ [24]. Đề tài đã thiết kế 20 bài tập phát triển giao tiếp cho trẻ Tự kỷ 24 – 36 tháng dành cho phụ huynh. Tuy nhiên chưa tiến hành thực nghiệm để kiểm nghiệm tính khả thi của các bài tập phát triển giao tiếp tổng thể.
Năm 2012, Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến trong cuốn ―Giáo dục đặc biệt và những thuật ngữ cơ bản”, cũng đã nghiên cứu về Giáo dục hòa nhập (GDHN) và đưa ra định nghĩa giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục trong đó trẻ khuyết tật cùng học với trẻ bình thường, trong trường phổ thông ngay tại nơi mình sinh sống [28, trg. Giáo dục hòa nhập nhìn nhận trẻ khuyết tật dựa trên quan điểm xã hội, khi cho rằng khiếm khuyết không phải chỉ do khiếm khuyết của bản thân cá thể mà còn là khiếm khuyết của xã hội. Mọi trẻ khuyết tật đều có những năng lực nhất định, do đó mà trẻ khuyết tật được coi là chủ thể chứ không phải là đối tượng thụ động trong quá trình tiếp nhận các tác động giáo dục. GDHN có bản chất riêng so với các phương thức giáo dục khác như: Giáo dục cho mọi đối tượng trẻ.
Đây là tư tưởng chủ đạo, yếu tố đầu tiên thể hiện bản chất của GDHN. Trong giáo dục hoà nhập không có sự tách biệt giữa trẻ khuyết tật với trẻ không khuyết tật. Mọi trẻ đều được tôn trọng và đều có giá trị như nhau [28, trg. - Nghiên cứu về phương pháp công tác xã hội nhóm Trong bài viết của T.
Trần Văn Kham: ―Mô hình xã hội về khuyết tật và áp dụng trong công tác xã hội với người khuyết tật ở Việt Nam” đăng gửi tạp trí nhân lực xã hội, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam. Số 2/2015 cũng đã nói lên được thực trạng người khuyết tật trên thế giới và ở Việt Nam, mặc dù điều kiện sống của xã hội có nhiều biến đổi mạnh mẽ nhưng người khuyết tật vẫn đang phải đối mặt với những khó khăn và thách thức để hướng tới cuộc sống hòa nhập. Đề tài luận văn thạc sĩ: ―Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc giải quyết vấn đề của người khuyết tật” của ThS. Nguyễn Thị Huyền, tìm hiểu về vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc tìm hiểu những khó khăn của người khuyết tật và gia đình người khuyết tật và giải quyết những khó khăn đó thông qua việc tìm kiếm cung cấp các dịch vụ cần thiết cho người khuyết tật và gia đình của họ.
Đề tài luận văn thạc sĩ: ―Xây dựng mô hình hỗ trợ trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ trên địa bàn huyện Gia Lâm, Thành Phố Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp tại trung tâm hỗ trợ hòa nhập Gia Lâm)” của ThS. Nguyễn Thị Trang, chuyên ngành công tác xã hội, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2014) cũng đã phân tích rõ những khó khăn của trẻ khuyết tật và gia đình trẻ khuyết tật đang gặp phải và đề xuất những biện pháp hỗ trợ trẻ tự kỷ cho gia đình, ứng dụng trong trường hợp cụ thể tại trung tâm hỗ trợ hòa nhập Gia Lâm. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.