phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý văn bản tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh. Chƣơng 2: Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý văn bản 6 tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Chƣơng 3: Giải pháp thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý văn bản tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ VĂN BẢN TẠI CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH 1.1 Khái quát về quản lý văn bản 1.1 Khái niệm văn bản, văn bản quản lý nhà nước và văn bản điện tử 1.1 Khái niệm văn bản Hoạt động giao tiếp của nhân loại đƣợc thực hiện chủ yếu bằng ngôn ngữ. Phƣơng tiện giao tiếp này đƣợc thực hiện ngay từ buổi đầu của xã hội loài ngƣời. Với sự ra đời của chữ viết, con ngƣời đã thƣc hiện đƣợc những không gian cách biệt qua nhiều thế hệ. Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ luôn luôn đƣợc thực hiện qua quá trình phát và nhận các ngôn bản.
Theo giáo trình “Kỹ thuật xây dựng và ban hành văn bản” và giáo trình “Hành chính văn phòng” của Học viện Hành chính có nhiều quan niệm khác nhau về văn bản: - Quan niệm 1: “Văn bản là một loại tài liệu đƣợc hình thành trong các hoạt động khác nhau của đời sống xã hội”; - Quan niệm 2: Quan niệm của các nhà ngôn ngữ: “Văn bản là một chỉnh thể ngôn ngữ, thƣờng bao gồm một tập hợp các câu và có thể có một đầu đề, có tính nhất quán về chủ đề, trọn vẹn về nội dung, đƣợc tổ chức theo một kết cấu chặt chẽ”; - Quan niệm 3: Quan niệm theo nghĩa rộng của các nhà nghiên cứu hành chính: “Văn bản là phƣơng tiện ghi tin và truyền đạt thông tin bằng một ngôn ngữ hay một ký hiệu ngôn ngữ nhất định”.2 Khái niệm văn bản quản lý nhà nước Văn bản quản lý nhà nƣớc là những quyết định và thông tin quản lý thành văn (đƣợc văn bản hoá) do các cơ quan quản lý nhà nƣớc ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức nhất định và đƣợc nhà nƣớc đảm bảo thi hành bằng những hình thức khác nhau nhằm điều chỉnh các mối quan hệ quản lý nội bộ nhà nƣớc hoặc giữa các cơ quan nhà nƣớc với các tổ chức và công dân. Văn bản quản lý HCNN là một bộ phận của văn bản QLNN, bao gồm những 8 văn bản của các cơ quan nhà nƣớc (mà chủ yếu là các cơ quan HCNN) dùng để đƣa ra các quyết định và chuyển tải các thông tin quản lý trong hoạt động chấp hành và điều hành. Các văn bản đặc thù thuộc thẩm quyền lập pháp (văn bản luật, văn bản dƣới luật mang tính chất luật) hoặc thuộc thẩm quyền tƣ pháp (bản án, cáo trạng.) không phải là văn bản quản lý HCNN. Và nhƣ vậy, về mặt nội dung của văn bản: văn bản QLNN chứa đựng những quyết định và thông tin quản lý nhà nƣớc; Về mặt chủ thể ban hành văn bản: văn bản QLNN do các cơ quan QLNN ban hành theo thẩm quyền đƣợc Nhà nƣớc quy định; Về mặt quy trình ban hành: văn bản QLNN đƣợc ban hành theo trình tự, thủ tục, hình thức nhất định; Về mặt mục đích: văn bản QLNN đƣợc ban hành nhàm điều chỉnh các mối quan hệ quản lý HCNN giữa các cơ quan nhà nƣớc với nhau và giữa các cơ quan nhà nƣớc với các tổ chức và công dân.3 Khái niệm văn bản điện tử Văn bản điện tử đƣợc định nghĩa tại Khoản 1 Điều 3 Quyết định 28/2018/QĐ-TTg về gửi, nhận văn bản điện tử giữa cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nƣớc do Thủ tƣớng Chính phủ ban hành với nội dung nhƣ sau: Văn bản điện tử là văn bản dƣới dạng thông điệp dữ liệu, theo thể thức định dạng do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quy định, đƣợc tạo lập hoặc đƣợc số hóa từ văn bản giấy.
Nhƣ vậy, với tính chất là một loại hình văn bản, văn bản điện tử trƣớc hết cũng phải đảm bảo yêu cầu ổn định, thống nhất, cố định và truyền đạt thông tin cho nhiều đối tƣợng. Điểm khác biệt giữa văn bản bản điện tử với văn bản giấy và các loại hình văn bản khác chính ở kỹ thuật ghi tin, lƣu trữ và truyền tin. Các công đoạn này đƣợc thực hiện bằng các phƣơng tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ và các công nghệ tích hợp.2 Khái niệm quản lý văn bản Quản lý văn bản đƣợc quy định thực hiện thống nhất tại Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về công tác văn thƣ, Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của công tác văn thƣ và Thông tƣ số 07/2012/TT-BNV ngày 22 tháng 11 năm 2012 của Bộ Nội vụ hƣớng dẫn quản lý văn bản, lập hồ sơ và nộp hồ sơ, tài liệu vào Lƣu trữ cơ quan. Thông tƣ này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 07 tháng 01 năm 2013.
Quản lý văn bản là áp dụng các biện pháp nghiệp vụ nhằm tiếp nhận, chuyển giao nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo an toàn văn bản hình thành trong hoạt động hàng ngày của cơ quan, tổ chức. Công tác quản lý văn bản đƣợc xác định là một mặt hoạt động của công tác văn thƣ nói chung. Trong các cơ quan, tổ chức, công tác quản lý văn bản không thể thiếu đƣợc và là nội dung quan trọng trong công tác văn thƣ, chiếm một phần rất lớn trong nội dung hoạt động của cơ quan, tổ chức. Nhƣ vậy, công tác quản lý văn bản gắn liền với hoạt động của các cơ quan, đƣợc xem nhƣ một bộ phận hoạt động quản lý nhà nƣớc, có ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng quản lý nhà nƣớc.3 Các yêu cầu của quản lý văn bản Trong quá trình thực hiện các nội dung công việc, việc quản lý văn bản đến cũng nhƣ văn bản đi ở các cơ quan phải bảo đảm các yêu cầu dƣới đây: - Nhanh chóng: Quá trình giải quyết công việc của cơ quan phụ thuộc nhiều vào việc xây dựng văn bản và tổ chức quản lý, giải quyết văn bản.
Do đó, xây dựng văn bản nhanh chóng, giải quyết nhanh chóng mọi công việc của cơ quan. Giải quyết văn bản chậm sẽ làm giảm tiến độ giải quyết công việc của mọi cơ quan, giảm ý nghĩa của sự việc đƣợc đề cập trong văn bản. Đồng thời gây tốn kém tiền của, công sức và thời gian của các cơ quan. - Chính xác: đây là một yêu cầu quan trọng đối với công tác văn thƣ nói chung, việc quản lý văn bản nói riêng.
10 Chính xác về nội dung của văn bản: + Nội dung văn bản phải tuyệt đối chính xác về mặt pháp lý, tức là phải phù hợp với Hiến pháp, pháp luật và các văn bản quy định của các cơ quan nhà nƣớc cấp trên; + Dẫn chứng hoặc trích dẫn ở văn bản phải hoàn toàn chính xác, phù hợp với thực tế, không thêm bớt, bịa đặt, không che dấu sự thật … + Số liệu phải đầy đủ, chứng cứ phải rõ ràng. Chính xác về mặt thể thức văn bản: + Văn bản ban hành phải có đầy đủ các thành phần do Nhà nƣớc quy định: Quốc hiệu; Tác giả; Sổ; Ký hiệu văn bản; Địa danh, ngày tháng năm ban hành; Tên loại trích yếu nội dung văn bản; Nội dung; thể thức đề ký, chữ ký, con dấu của cơ quan; Nơi nhận văn bản. các yếu tố thông tin nêu trên phải đƣợc trình bày đúng vị trí, phông chữ, cỡ chữ, kiểu chữ; + Mẫu trình bày phải đúng tiêu chuẩn Nhà nƣớc ban hành. Chính xác về khâu kỹ thuật nghiệp vụ: + Yêu cầu chính xác phải đƣợc quán triệt một cách đầy đủ trong tất cả các khâu nghiệp vụ nhƣ đánh máy văn bản, đăng ký văn bản, chuyển giao văn bản.
+ Yêu cầu chính xác còn phải đƣợc thể hiện trong thực hiện đúng với các chế độ quy định của Nhà nƣớc về công tác văn thƣ. - Bí mật: Trong nội dung văn bản đến, văn bản đi của cơ quan có nhiều vấn đề thuộc phạm vi bí mật của cơ quan, của Nhà nƣớc. Vì vậy, từ việc xây dựng văn bản và tổ chức quản lý, giải quyết văn bản, bố trí phòng làm việc của cán bộ văn thƣ đến việc lựa chọn cán bộ văn thƣ của cơ quan đều phải bảo đảm yêu cầu đã đƣợc quy định trong Pháp lệnh bảo vệ bí mật Quốc gia của Ủy ban thƣờng vụ quốc hội. - Hiện đại: Việc thực hiện những nội dung cụ thể của công tác văn thƣ gắn liền với việc sử dụng các phƣơng tiện và kỹ thuật văn phòng hiện đại.
Vì vậy, yêu cầu ứng dụng CNTT trong quản lý văn bản đã trở thành một trong những tiền đề đảm 11 bảo cho công tác quản lý nhà nƣớc nói chung và của mỗi cơ quan nói riêng và có năng suất, chất lƣợng cao. Việc tăng cƣờng ứng dụng CNTT trong quản lý văn bản ngày nay tuy đã trở thành một nhu cầu cấp bách, nhƣng phải tiến hành từng bƣớc, phù hợp với trình độ khoa học công nghệ chung của đất nƣớc cũng nhƣ điều kiện cụ thể của từng địa phƣơng.4 Các nội dung của quản lý văn bản 1. Quản lý văn bản đi Văn bản đi là tất cả các loại văn bản, bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính và văn bản chuyên ngành (kể cả bản sao văn bản, văn bản nội bộ và văn bản mật) do cơ quan, tổ chức phát hành. a) Kiểm tra thể thức và kỹ thuật trình bày; ghi số và ngày, tháng, năm của văn bản - Kiểm tra thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản: Trƣớc khi phát hành văn bản, Văn thƣ kiểm tra lại thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản; nếu phát hiện sai sót thì báo cáo ngƣời có trách nhiệm xem xét, giải quyết.
- Ghi số và ngày, tháng, năm của văn bản. b) Đăng ký văn bản đi - Văn bản đi đƣợc đăng ký vào Sổ đăng ký văn bản đi hoặc Cơ sở dữ liệu quản lý văn bản đi trên máy vi tính.