mở đầu bài giảng bằng trò chơi ô chữ, nhưng khóa luận cũng chỉ dừng lại ở bước giới thiệu trò chơi ô chữ. Tác giả vẫn chưa hướng dẫn người đọc cách thiết kế trò chơi đó như thế nào và trò chơi chỉ được thiết kế bằng phần mềm Microsoft Office PowerPoint. Khóa luận tốt nghiệp “Thiết kế một số hoạt động dạy học gây hứng thú nhận thức trong môn hóa học lớp 10” của sinh viên Tô Quốc Anh, khoa Hóa trường ĐHSP TP.Hồ Chí Minh (2007) [1]. Ưu điểm Tác giả đã đưa ra một số thiết kế sau: − Thiết kế một số trò chơi dạy học hóa học lớp 10: Tác giả đã chia ra thành các loại trò chơi như các trò chơi củng cố kiến thức, các trò chơi rèn luyện kỹ năng giải bài tập, các trò chơi ôn tập chung.
− Thiết kế một số dụng cụ dạy học hóa học. − Thiết kế một số giáo án dạy học hóa học lớp 10. Nhìn chung, đây là một tài liệu khá chi tiết về vấn đề gây hứng thú nhận thức trong dạy học. Nội dung những hoạt động dạy học gây hứng thú được đề cập trong khóa luận mới lạ và hấp dẫn.
Tác giả đã thiết kế được 11 trò chơi dạy học hóa học lớp 10 được sử dụng với mục đích dạy học khác nhau. Phần nội dung “Thiết kế trò chơi dạy học lớp 10” khai thác 11 trò chơi dạy học hóa học có thể áp dụng cho các khối lớp và bộ môn khác. Đây có thể làm tài liệu tham khảo tốt cho GV và giáo sinh thực tập sư phạm bộ môn Hóa học cũng như các bộ môn khác. Hạn chế Tuy nhiên, phần trò chơi trong khóa luận này vẫn chưa ứng dụng cũng như khai thác được vai trò CNTT, cũng như chưa giúp cho GV và SV hình thành và rèn luyện các kỹ năng thiết kế được các trò chơi đó.
Nếu hệ thống trò chơi mà tác giả thiết kế được có sự ứng dụng CNTT thì trò chơi sẽ hấp dẫn, sinh động hơn. Khóa luận tốt nghiệp “Ứng dụng công nghệ thông tin thiết kế một số họat động gây hứng nhận thức cho học sinh phổ thông trong tiết luyện tập hóa học” của Trương Thị Huyền Trang, khoa Hóa trường ĐHSP TP.Hồ Chí Minh (2009) [22]. Ưu điểm Khóa luận đã ứng dụng được phần mềm Microsoft Office PowerPoint thiết kế các trò chơi dạy học và được vận dụng trong một dạng bài cụ thể là luyện tập hóa học. Tổ chức hoạt động vừa luyện tập, vừa chơi cho học sinh nhằm phát huy khả năng học tập tích cực, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức, tạo không khí học tập mới.
Với hệ thống 4 trò chơi lớn (đấu trường X, chung sức, đối mặt, đường lên đỉnh Olympia) mà tác giả thiết kế như là một GameShow giúp học sinh cảm thấy gần gũi, hứng thú trong hoạt động học tập hơn. Ngoài ra, tác giả còn nêu được các lưu ý, bài học kinh nghiệm trong thiết kế và tổ chức trò chơi dạy học khi giảng dạy bài luyện tập. Hạn chế Tuy nhiên, khóa luận vẫn còn chưa thể hiện hết khả năng mà CNTT có thể làm được trong việc thiết kế các trò chơi trong dạy học hóa học. Hệ thống trò chơi chỉ được thiết kế bằng phần mềm Microsoft Office PowerPoint, các hướng dẫn thiết kế trò chơi chưa được hệ thống lại trong học liệu điện tử nhằm hỗ trợ được SV, GV trong khâu thiết kế trò chơi, ý tưởng trò chơi,… Luận văn thạc sĩ giáo dục học “Một số biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh khi dạy bài luyện tập, ôn tập phần hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông” của Đinh Thị Thu Hiền (2011) [9].
Ưu điểm Luận văn đã nghiên cứu được một số vấn đề về tích cực hóa hoạt động nhận thức vận dụng trong việc dạy học các bài luyện tập, ôn tập cụ thể. Tác giả đã đề xuất 7 biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong các bài luyện tập, ôn tập là − Sử dụng sơ đồ tư duy để tích cực hóa hoạt động của học sinh. − Sử dụng phương pháp Grap dạy học. − Sử dụng hệ thống bài tập.
− Sử dụng Algorit dạy học. − Sử dụng hình thức nhóm học tập sử dụng phiếu học tập. − Sử dụng trò chơi để kích thích hứng thú học tập. − Sử dụng phối hợp các PPDH tích cực.
Luận văn thạc sĩ giáo dục học “Một số biện pháp nâng cao chất lượng việc ôn tập, tổng kết môn hóa học lớp 10 chương trình nâng cao ở trường trung học phổ thông” của Nguyễn Thị Minh Thanh (2011) [20]. Ưu điểm Cả 2 luận văn trên đã nghiên cứu và trình bày khá đầy đủ và rõ ràng về cơ sở lý luận, cũng như đã đề xuất được một số biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức, nâng cao chất lượng việc ôn tập tổng kết môn hóa học lớp 10, 11 chương trình nâng cao. Trong đó có biện pháp là sử dụng các đồ dùng dạy học trực quan, các phương tiện kỹ thuật như dạy học cộng tác nhóm nhỏ, tổ chức trò chơi hóa học,… Ngoài ra, luận văn thứ nhất đã nêu được tác dụng của trò chơi học tập [9]: − Trò chơi có tác dụng hòa đồng sâu rộng và thu hút mức độ tập trung của học sinh mà không một phương pháp nào so sánh được. − Tổ chức học tập kết hợp với trò chơi không chỉ làm tăng hứng thú, tình cảm của học sinh đối với môn học và GV mà còn làm tăng mối quan hệ gắn kết giữa các thành viên trong lớp.
Hạn chế Tuy nhiên, cả 2 luận văn chỉ dừng lại ở bước giới thiệu, nêu ra chứ chưa làm nội bật được vai trò, cũng như hỗ trợ, hướng dẫn được người đọc ý tưởng trò chơi, cách thiết kế trò chơi đó có ứng dụng CNTT. Tóm lại, các nghiên cứu trên là những tư liệu quý giá, có nhiều giá trị về mặt lý luận cũng như thực tiễn giúp chúng tôi có thể rút ra nhiều điều bổ ích và những gợi ý quan trọng cho đề tài nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, nếu chú trọng hơn tới việc hướng dẫn kỹ năng phát hiện các hình thức trò chơi, kỹ năng thiết kế ra các trò chơi đó có ứng dụng CNTT, cũng như có nguồn tư liệu, hướng dẫn, kho trò chơi mẫu cho người xem thì khóa luận sẽ hữu ích hơn vì GV, SV không chỉ là người sưu tầm mà còn là người phải biết chủ động tạo ra các trò chơi đó bằng các công cụ, phần mềm có sẵn. Giáo dục thế kỉ XXI Giáo dục thế kỉ 21 đang chịu tác động của nhiều yếu tố, trong đó đáng kể là [4] − Sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật đặc biệt là CNTT.
− Sự tương tác ở mức độ cao của các hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội. − Nhu cầu tự khẳng định của từng cộng đồng, vùng và lãnh thổ. − Quá trình toàn cầu hóa. Các yếu tố tác động trên đã dẫn đến những biến đổi cơ bản sau: − Sự thay đổi của mục tiêu giáo dục: Từ trang bị kiến thức và kỹ năng sang hình thành năng lực, phẩm chất nhân cách của người học.
Mục tiêu giáo dục của chúng ta hiện nay là tạo ra những con người có năng lực, đầy tự tin, có tính độc lập, sáng tạo. − Xu hướng giáo dục toàn diện được đề cao. Nhiều môn học mới thiết thực với cuộc sống được đưa vào chương trình đào tạo. − Do sự phát triển cả về bề sâu và bề rộng của khoa học nên sự giao thoa giữa các môn học và ngành học ngày càng lớn.
− Internet trở thành một phương tiện giáo dục quan trọng. Nhờ Internet quá trình tìm kiếm, trao đổi thông tin, sự hội nhập giữa các nền văn hóa trở nên thuận lợi hơn. − Sự thay đổi các phương tiện và phương pháp dạy học (PPDH): Máy tính cá nhân ngày càng trở nên quan trọng với người học. Phương pháp thuyết giảng dần mất đi vai trò là PPDH chủ yếu, mà thay vào đó là hệ thống các PPDH linh hoạt và đa dạng.
− Không gian giáo dục và các loại hình đào tạo được mở rộng. Người học không nhất thiết phải đến lớp và giảm dần sự tiếp xúc trực diện với GV. − Xuất khẩu giáo dục là một lợi thế đem lại nguồn thu nhập cao cho các cường quốc giáo dục. Vậy giáo dục thế kỉ XXI chịu nhiều tác động, nhưng nhìn chung đặc điểm, yêu cầu nổi bật của giáo dục thế kỉ XXI là sử dụng rộng rãi Internet, CNTT trong mọi khâu giáo dục, từ nội dung cho đến phương pháp, tổ chức, quản lí.
Lí do dễ hiểu là vì CNTT đã len lỏi vào mọi hoạt động kinh tế và đời sống trong xã hội hiện đại, khiến cho hiểu biết tối thiểu về tin học trở nên cần thiết cho mọi người. Mặt khác, máy tính, Internet, viễn thông, truyền thông không dây đã trở thành những công cụ có thể hỗ trợ đắc lực trong việc giảng dạy và học tập. Giáo dục thế kỉ XXI không chỉ coi trọng tri thức mà còn phải chú ý rèn luyện trí tưởng tượng, làm cơ sở cho tư duy, sáng tạo. Thực hiện giáo dục công bằng, dân chủ để bảo đảm cho mọi công dân quyền bình đẳng về cơ hội học tập và cơ hội thành đạt trong học vấn.
Ngoài ra, trong giáo dục thế kỉ XXI cũng yêu cầu mọi người đều cần học tập, học thường xuyên, học suốt đời và đòi hỏi sự thay đổi cách quản lí giáo dục. Đổi mới phương pháp dạy học 1. Khái niệm phương pháp dạy học Theo PGS.Trịnh Văn Biều [4], PPDH là một trong những thành tố quan trọng của quá trình dạy học. Cùng một nội dung, học sinh có hứng thú tích cực hay không, có hiểu bài một cách sâu sắc hay không, phần lớn phụ thuộc vào PPDH của GV.
Chính vì PPDH có tầm quan trọng đặc biệt như vậy nên nó luôn được các nhà giáo dục quan tâm. PPDH là cách thức thực hiện phối hợp, thống nhất giữa người dạy và người học, nhằm thực hiện tối ưu các nhiệm vụ dạy học. Đó là sự kết hợp hữu cơ và thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học. PPDH theo nghĩa rộng bao gồm phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học, PPDH dạy học theo nghĩa hẹp.
Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học Trên thế giới và ở nước ta hiện nay đang có rất nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm về đổi mới PPDH theo các hướng khác nhau.Trịnh Văn Biều [4], một số xu hướng đổi mới cơ bản như sau: − Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học.