CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6 1. Giới thiệu về cây Kiwi 1. Phân bố cây Kiwi Kiwi là một loại trái cây thuộc chi Actinidia. Đó là một chi được tìm thấy chủ yếu ở miền nam Trung Quốc, bao gồm 54 loài được trồng trong các vườn thương mại của Trung Quốc [1,12].
Ở những môi trường khí hậu và địa lý khác nhau, các loài của chi Actinidia thể hiện sự biến đổi sinh học rất lớn. Ngày nay có hai loài được dùng trong thương mại là: A. Hai loài này đều có giá trị kinh tế cao, kích thước trái lớn so với các loài khác. Actinidia chinensis có nhiều giống như “Guifeng”, “Guilu”, “Guimi” và “Xuzhou 78-3” [1,13] nhưng chúng không được trồng rộng rãi, các giống này được thu thập trong tự nhiên.
Mark McNeilage, 1987 đã lai cây cái A. chinensis CK01 với phấn hoa của cây A. chinensis CK15-01 và được đặt tên là A. “Hort16A” là cây lưỡng bội, trọng lượng trái trung bình 95 - 100g.
Thịt trái có màu vàng lục đến vàng nhạt tùy theo thời gian thu hoạch. Thời gian bảo quản 12 - 16 tuần ở 0 ± 0,5°C. Nhiệt độ bảo quản tối ưu là 1,5 ± 0,5°C [14]. Trái được ra mắt trên thị trường quốc tế với tên Zespri ™ Gold Kiwi.
Tuy nhiên giống này rất dễ bị nhiễm vi khuẩn. Kể từ đó, Carputo và cộng sự, 2000 đã sử dụng giống cây trồng “Hort16A” làm bố mẹ ban đầu tạo con lai “Zesy002”. Sau khi được cấp bằng sáng chế bởi US Plant Patent 22,355 P3, “Zesy002” có tên là Zespri® SunGold Kiwi [1]. Actinidia thường phân bố ở các vùng đất ẩm và tơi xốp với độ cao 800 - 1.400 m đôi khi lên đến 1.950 m so với mực nước biển.
chinensis có nhiều nhất ở những vùng có lượng mưa hàng năm là 1000 - 2000 mm và độ ẩm tương đối là 75 - 85% [1]. Tất cả các loài trong chi Actinidia xuất hiện đều có cây đực và cây cái hiếm khi có các biến thể không phù hợp về giới tính xảy ra. Sự khác biệt về giải phẫu và hình thái của lá và cuống lá kiwi có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định giới tính. Không có sự khác biệt quan trọng giữa cây đực và cây cái trong cấu trúc của hệ thống mạch ở lá và cuống lá.
Vì vậy, độ dày của lá và hình thái bề mặt 7 của biểu bì trên lá có thể được coi là những thông số cấu trúc quan trọng để xác định giới tính. Hoa cái chủ yếu mọc đơn độc hay thành cụm có hai đến ba hoa. Hoa đực mọc thành cụm gồm hai đến ba hoa một cụm, hoa nhỏ hơn hoa cái, bao phấn có màu vàng, bầu nhụy tiêu giảm. Về mặt hình thái, cả hoa đực và hoa cái đều hoàn chỉnh (hữu thụ) và lưỡng tính.
Tuy nhiên, việc rụng phấn hoa đối với hoa cây cái và thoái hóa bầu nhụy với hoa cây đực làm cho cây leo thể hiện chức năng đơn tính [1]. Nhân giống Kiwi bằng phương pháp truyền thống như cắt cành, ghép cành thường không có hiệu quả cao do phải trồng lâu dài và hạn chế về sự hình thành rễ [15]. Phương pháp vi nhân giống Kiwi hiện nay đã đạt được một số kết quả như tái sinh chồi [16], phát sinh cơ quan [17], phát sinh phôi soma [18] và tái sinh cây [17] ở Việt Nam. Hiện nay, ở Việt Nam, chưa có vùng nào trồng thành công Kiwi cho trái thu hoạch mà chủ yếu đang trồng thử nghiệm ở một số vùng núi phía Bắc và Kỳ Sơn thuộc tỉnh Nghệ An.
Cho đến nay, theo các tài liệu khoa học đã công bố có một số đề tài nghiên cứu một số đặc tính như sự hình thành mô sẹo và ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng, pH môi trường, nồng độ đường và thể tích môi trường đến việc nuôi cấy tế bào đơn cây A. deliciosa [19], nghiên cứu giâm hom và gieo hạt trên cây A. Ở Lâm Đồng có khí hậu nhiệt đới gió mùa biến thiên theo độ cao. Nhiệt độ thay đổi rõ rệt giữa các khu vực, càng lên cao nhiệt độ càng giảm.
Nhiệt độ trung bình năm từ 18 - 25°C. Lượng mưa trung bình 1.150 mm/năm, độ ẩm tương đối trung bình cả năm đạt 85 - 87%, thuận lợi cho phát triển các loại cây trồng có nguồn gốc ôn đới. Ở nhiệt độ này tương đối phù hợp cho cây Kiwi phát triển khi vùng Lâm đồng có cùng độ cao, lượng mưa hằng năm so với vùng phân bố của Kiwi ở miền Nam Trung Quốc. Tuy nhiên, cây Kiwi được xem là một loại cây rất khó phát triển nên ở Lâm Đồng chưa có sản xuất giống cây này.
Một số nhà cung cấp giống ở Việt Nam như Trung tâm cây giống - Viện nông nghiệp Việt Nam chủ yếu nhập khẩu cây ghép từ các nước Trung Quốc, Đài Loan. Phạm vi phân bố tự nhiên của Kiwi. Giá trị dinh dưỡng của trái Kiwi Kiwi là một loại trái cây giàu chất dinh dưỡng. Kiwi có hàm lượng vitamin C đặc biệt cao và chứa một loạt các chất dinh dưỡng khác liên quan đến chất xơ, kali, vitamin E và folate, cũng như các thành phần hoạt tính sinh học khác nhau, bao gồm một loạt các chất chống oxy hóa, dinh dưỡng thực vật và enzyme để cung cấp các lợi ích về chức năng và trao đổi chất.
Cơ sở dữ liệu dinh dưỡng quốc gia USDA cho thấy tổng hàm lượng acid ascorbic trong giống Kiwi xanh (có tên gọi thương mại là Hayward) là 92,7 mg/100 g thịt trái Kiwi, thấp hơn so với Kiwi vàng là 161,3 mg/100g và cao gần gấp ba lần lượng acid ascorbic có trong cam và dâu tây tính theo trọng lượng thịt trái có thể ăn được (Bảng 1. So sánh thành phần dinh dưỡng của trái Kiwi xanh và Kiwi vàng Kiwi xanh Kiwi vàng (Actinidia (Actinidia Dinh dưỡng Đơn vị/100g deliciosa- chinensis- Hayward) SunGold) Khoáng chất Canxi, Ca mg 34 17,0 Sắt, Fe mg 0,31 0,21 Mg mg 17 12,0 P mg 34 25 K mg 312 315 Na mg 3 3 Vitamins Vitamin C mg 92,7 161,3 Vitamin B1 mg 0,027 < 0,01 Vitamin B2 mg 0,025 0,074 Vitamin B3 mg 0,341 0,231 Vitamin B5 mg 0,183 0,12 Vitamin B6 mg 0,063 0,079 Vitamin B9 µg, DFE 25 31,0 Vitamin B12 µg 0 0,08 Vitamin A IU 87 23 Vitamin E (α-tocopherol) mg 1,46 1,51 Vitamin K µg 40,3 6,1 USDA NDB No 09148 09520 (Nguồn: Trích cở sở dữ liệu quốc gia để tham khảo tiêu chuẩn cho mỗi trái Kiwi xanh và Kiwi vàng trong 100g, USDA, 2018). Trái Kiwi cũng chứa hàm lượng vitamin E tương đối cao, so với các loại trái cây được tiêu thụ khác, α-tocopherol có trong thịt trái, có hàm lượng lần lượt là 1,40 và 1,5 mg trên 100 g trái vàng và trái xanh tương ứng. Ngoài ra, δ-tocomonoenol trong trái Kiwi cũng có khả năng chống oxy hóa [21].
10 Trái Kiwi còn là nguồn cung cấp axit folic tốt cho chế độ ăn uống. Theo Richardson và cộng sự (2018) hàm lượng folate trong trái Kiwi cao hơn một số loại trái cây như chuối, nho, táo; hàm lượng folate trong trái Kiwi xanh là 25 µg/100g thịt trái còn ở trái Kiwi vàng là 31 µg/100g. Vì folate rất bền ở dạng tươi và dễ bị phá hủy khi nấu chín trong các loại rau xanh nên folate có trong trái Kiwi tươi có thể đóng góp một phần hữu ích vào tổng chế độ ăn uống và được xem là thực phẩm bổ sung [21]. Giá trị kinh tế Trái Kiwi mặc dù có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng khi du nhập vào New Zealand những năm 1920, nó mới được đánh giá cao trên thị trường New Zealand vì hình dáng và hương vị mới lạ, đặc trưng.
Ngoài giá trị dinh dưỡng thì trái Kiwi còn có khả năng kháng khuẩn, kháng nấm và chống oxy hóa, có thể được sử dụng như một loại trái cây dược liệu tiềm năng. Với giá trị kinh tế cao như vậy, nên các đồn điền thương mại đầu tiên được thành lập vào năm 1937 [22] và đến nay New Zealand là nước thứ hai sản xuất trái Kiwi cao nhất thế giới sau Trung Quốc với hơn 14. Theo nghiên cứu của Mapu và cộng sự năm 2019, giá trị kinh tế của trái Kiwi xanh chỉ đạt khoảng 300 nghìn - 450 nghìn USD/ha trong khi đó vườn Kiwi vàng đạt khoảng 800 nghìn - 1.000 nghìn USD/ha [23], cao gấp 2,5 lần giá trị so với Kiwi xanh. Năm 2020, các quốc gia xuất khẩu Kiwi tươi hàng đầu là New Zealand (54%), Ý (16,4%), Bỉ (6,9%), Hy Lạp (6,1%) và Chile (5,7%) [24].
Các kỹ thuật nhân giống Kiwi 1. Nhân giống bằng phương pháp truyền thống 1. Gieo hạt Các nhà khoa học nghiên cứu đã xác định đặc điểm của hạt Kiwi ở trạng thái ngủ và nảy mầm trong phản ứng với các yếu tố môi trường như nhiệt độ và ánh sáng [25]. Các phương pháp phổ biến để phá vỡ tình trạng ngủ đông là xử lý bằng nhiệt và xử lý hormone.
Tỷ lệ nảy mầm có thể được cải thiện đáng kể bằng cách giữ hạt ở 4,4°C trong 6 - 8 tuần và sau đó điều chỉnh nhiệt độ 10°C vào ban đêm và 20°C vào ban ngày. Ngoài ra, hạt giống có thể được lưu trữ trong một túi nhựa ở 4°C trong 5 tuần và sau đó để nhiệt độ 21°C trong 16 giờ và 10°C trong 8 giờ. Phương pháp này 11 làm cho tỷ lệ nảy mầm trên 90% [26]. Hiệu quả tương tự có thể đạt được bằng cách ngâm hạt trong GA3 ở nồng độ 6.000 ppm ở 35°C trước khi gieo [27].
Ghép Ghép là cách thông thường để sản xuất cây Kiwi nhằm giữ đặc tính di truyền của cây trồng. Có nhiều phương pháp ghép cây Kiwi bao gồm ghép khe, ghép lưỡi, ghép vỏ hoặc màng, ghép cành chồi bên và những phương pháp ghép chồi khác. Thời gian tốt nhất để ghép là mùa xuân trước thời kỳ chảy nhựa cây. Ở Trung Quốc, các kỹ thuật được sử dụng phổ biến nhất là ghép cành chồi bên hoặc ghép thân.
Bất kể phương pháp nào được sử dụng, các điểm chính để ghép thành công là vết cắt phải sắc nét; định vị chính xác vị trí của cành ghép trong việc tiếp xúc với tầng sinh gỗ; liên kết chặt chẽ giữa các vết cắt và dán kín, giữ cho mối ghép cũng như giữ cho gốc ghép được tưới nước tốt [1,27,28]. Cây con dùng làm gốc ghép được trồng từ A. chinensis và var. deliciosa được coi là tốt hơn bởi vì chúng khỏe hơn và dễ thích nghi hơn [1].
Các gốc ghép khác nhau ảnh hưởng đến sự khởi đầu và phát triển sinh lý của nụ hoa. Gốc ghép được lựa chọn có khả năng chịu stress và kháng bệnh cho chất lượng tốt và năng suất trái Kiwi cao [29]. Vườn ươm cây Kiwi 1.