Luận Văn Thạc Sĩ: Ứng Dụng Chỉ Thị Phân Tử Liên Kết Gần Trong Chọn Giống Lúa Chịu Ngập Chìm

Luận văn thạc sĩ HUS nghiên cứu ứng dụng chỉ thị phân tử liên kết gần trong chọn giống lúa chịu ngập chìm, góp phần nâng cao năng suất lúa.

Chuyên ngành

Di truyền học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2011

100
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, NƯỚC BIỂN DÂNG ĐẾN SẢN XUẤT LÚA GẠO

1.1.1. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đến sản xuất lúa gạo trên thế giới

1.1.2. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đến sản xuất lúa gạo ở Việt Nam

1.2. CÁC VÙNG TRỒNG LÚA Ở VIỆT NAM CÓ KHẢ NĂNG BỊ NGẬP THEO KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

1.2.1. Vùng trồng lúa có khả năng bị ngập ở Đồng bằng sông Hồng

1.2.2. Vùng trồng lúa có khả năng ngập ở Đồng bằng Sông Cửu Long

1.3. NGHIÊN CỨU VỀ CƠ CHẾ TÍNH CHỐNG CHỊU NGẬP CỦA CÂY LÚA

1.3.1. Gen chịu ngập của cây lúa và cơ chế hoạt động

1.3.2. Sinh lý học tính chống chịu ngập của cây lúa

1.3.3. Di truyền tính chống chịu ngập của cây lúa

1.4. MỘT SỐ LOẠI CHỈ THỊ PHÂN TỬ THƯỜNG ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU GENOME VÀ CHỌN GIỐNG THỰC VẬT

1.4.1. Chỉ thị phân tử ADN

1.4.2. Chỉ thị dựa trên cơ sở lai ADN

1.4.3. Chỉ thị dựa trên cơ sở nhân bản ADN

1.4.4. Chỉ thị dựa trên những cơ sở những chuỗi có trình tự lặp lại

1.4.5. Tính ưu việt và những ứng dụng của chỉ thị phân tử

1.4.5.1. Tính ưu việt của chỉ thị phân tử
1.4.5.2. Những ứng dụng của chỉ thị phân tử

1.5. NHỮNG NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG CHỊU NGẬP

1.5.1. Những nghiên cứu chọn tạo giống chịu ngập trên thế giới

1.5.2. Những nghiên cứu chọn tạo giống chịu ngập ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1.1. Các giống lúa nghiên cứu

2.1.2. Hóa chất và thiết bị thí nghiệm

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Phương pháp lai hữu tính - lai trở lại giữa giống cho và nhận gen chịu ngập

2.2.2. Phương pháp tách chiết ADN tổng số

2.2.3. Phương pháp PCR với mồi SSR

2.2.4. Phương pháp điện di trên gel agarose 0,8%

2.2.5. Phương pháp điện di trên gel polyacrylamide

2.2.6. Phương pháp điện di trên gel polyacrylamide biến tính

2.2.7. Phương pháp điện di trên gel polyacrylamide không biến tính

2.2.8. Phương pháp xử lý số liệu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. TÁCH CHIẾT VÀ TINH SẠCH ADN TỔNG SỐ

3.2. KHẢO SÁT ĐA HÌNH GIỮA HAI GIỐNG BỐ MẸ

3.3. QUY TỤ GEN CHỊU NGẬP CHÌM SUB1 VÀO GIỐNG LÚA AS996

3.3.1. Xác định con lai F1

3.3.2. Quy tụ gen Sub1 vào giống AS996 ở thế hệ BC1F1

3.3.3. Quy tụ gen Sub1 vào giống AS996 ở thế hệ BC2F1

3.3.4. Quy tụ gen Sub1 vào giống AS996 ở thế hệ BC3F1

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Ứng Dụng Chỉ Thị Phân Tử Trong Chọn Giống Lúa Chịu Ngập Chìm

Cây lúa (Oryza sativa) là một trong những cây lương thực quan trọng nhất trên thế giới, cung cấp thực phẩm cho khoảng 2/3 dân số toàn cầu. Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo đang phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là do biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Việc ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn giống lúa chịu ngập chìm đã trở thành một giải pháp tiềm năng để nâng cao năng suất và chất lượng lúa gạo. Nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc sử dụng các chỉ thị phân tử để xác định và quy tụ các gen chịu ngập vào các giống lúa có năng suất cao.

1.1. Khái Niệm Về Chỉ Thị Phân Tử Trong Nông Nghiệp

Chỉ thị phân tử là các đoạn DNA được sử dụng để xác định sự hiện diện của các gen cụ thể trong cây trồng. Chúng giúp các nhà khoa học và nhà chọn giống xác định nhanh chóng các tính trạng mong muốn, như khả năng chịu ngập của cây lúa. Việc sử dụng chỉ thị phân tử trong chọn giống giúp rút ngắn thời gian và tăng độ chính xác trong quá trình chọn lọc.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Giống Lúa Chịu Ngập Chìm

Giống lúa chịu ngập chìm có khả năng sống sót và phát triển trong điều kiện ngập nước kéo dài. Điều này đặc biệt quan trọng ở các vùng đồng bằng ven biển, nơi mà nước biển dâng và lũ lụt ngày càng trở nên phổ biến. Việc phát triển các giống lúa này không chỉ giúp bảo đảm an ninh lương thực mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nông nghiệp.

II. Thách Thức Trong Sản Xuất Lúa Gạo Do Biến Đổi Khí Hậu

Biến đổi khí hậu đang gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sản xuất lúa gạo, đặc biệt là ở các quốc gia như Việt Nam. Nhiệt độ tăng cao, mực nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan đang làm giảm năng suất lúa. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, mỗi năm, hàng triệu tấn lúa bị mất do lũ lụt và xâm nhập mặn. Điều này đặt ra thách thức lớn cho ngành nông nghiệp và an ninh lương thực.

2.1. Ảnh Hưởng Của Nước Biển Dâng Đến Sản Xuất Lúa

Nước biển dâng cao không chỉ làm ngập các vùng trồng lúa mà còn gây ra hiện tượng xâm nhập mặn, làm giảm chất lượng đất và nước. Theo ước tính, nếu mực nước biển dâng 1m, khoảng 40.000 km² đất nông nghiệp sẽ bị ngập, ảnh hưởng đến hàng triệu người nông dân.

2.2. Tác Động Của Thời Tiết Cực Đoan Đến Năng Suất Lúa

Thời tiết cực đoan như hạn hán, bão lũ và nhiệt độ cao đang làm giảm năng suất lúa. Các nghiên cứu cho thấy, trong những năm gần đây, năng suất lúa đã giảm từ 10-20% do các yếu tố này. Điều này đòi hỏi cần có các giống lúa có khả năng chịu đựng tốt hơn trước những biến đổi này.

III. Phương Pháp Chọn Giống Lúa Chịu Ngập Chìm Hiệu Quả

Phương pháp chọn giống lúa chịu ngập chìm hiện nay chủ yếu dựa vào công nghệ sinh học và các chỉ thị phân tử. Một trong những phương pháp hiệu quả nhất là lai trở lại kết hợp với chỉ thị phân tử (MABC). Phương pháp này cho phép các nhà chọn giống nhanh chóng quy tụ các gen chịu ngập vào các giống lúa có năng suất cao, từ đó tạo ra các giống lúa mới có khả năng chống chịu tốt hơn.

3.1. Lai Trở Lại Kết Hợp Với Chỉ Thị Phân Tử

Lai trở lại là phương pháp chọn giống truyền thống, nhưng khi kết hợp với chỉ thị phân tử, nó trở nên hiệu quả hơn. Các nhà nghiên cứu có thể xác định nhanh chóng các con lai mang gen chịu ngập, từ đó rút ngắn thời gian chọn lọc và tăng khả năng thành công trong việc phát triển giống mới.

3.2. Ứng Dụng Công Nghệ Sinh Học Trong Chọn Giống

Công nghệ sinh học đã mở ra nhiều cơ hội mới trong việc phát triển giống lúa chịu ngập. Các phương pháp như chỉnh sửa gen và tạo giống biến đổi gen đang được nghiên cứu và áp dụng để tạo ra các giống lúa có khả năng chịu ngập tốt hơn, đồng thời vẫn giữ được năng suất cao.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Giống Lúa Chịu Ngập Chìm

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn giống lúa chịu ngập chìm đã đạt được nhiều kết quả khả quan. Các giống lúa mới được phát triển không chỉ có khả năng chịu ngập tốt mà còn duy trì được năng suất cao. Những kết quả này đã mở ra hướng đi mới cho ngành nông nghiệp trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu.

4.1. Các Giống Lúa Mới Được Phát Triển

Nhiều giống lúa mới đã được phát triển thành công nhờ ứng dụng chỉ thị phân tử. Các giống này không chỉ có khả năng chịu ngập tốt mà còn có năng suất cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường. Việc phát triển các giống lúa này sẽ giúp nông dân tăng thu nhập và cải thiện đời sống.

4.2. Ứng Dụng Kết Quả Nghiên Cứu Vào Thực Tiễn

Kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, giúp nông dân có thêm lựa chọn giống lúa phù hợp với điều kiện canh tác. Việc này không chỉ giúp tăng năng suất mà còn góp phần bảo đảm an ninh lương thực cho đất nước.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Chọn Giống Lúa Chịu Ngập Chìm

Việc ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn giống lúa chịu ngập chìm là một bước tiến quan trọng trong ngành nông nghiệp. Những kết quả đạt được từ nghiên cứu không chỉ giúp nâng cao năng suất lúa mà còn góp phần vào việc bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tương lai của ngành nông nghiệp sẽ phụ thuộc vào khả năng phát triển các giống lúa mới có khả năng chịu đựng tốt hơn trước những thách thức ngày càng gia tăng.

5.1. Hướng Đi Mới Trong Nghiên Cứu Giống Lúa

Nghiên cứu về giống lúa chịu ngập chìm sẽ tiếp tục được đẩy mạnh trong tương lai. Các nhà khoa học sẽ tập trung vào việc phát triển các giống lúa có khả năng chịu đựng tốt hơn trước biến đổi khí hậu, đồng thời vẫn đảm bảo năng suất và chất lượng.

5.2. Tầm Quan Trọng Của Hợp Tác Quốc Tế

Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và phát triển giống lúa chịu ngập chìm là rất cần thiết. Việc chia sẻ kiến thức và công nghệ giữa các quốc gia sẽ giúp tăng cường khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh lương thực toàn cầu.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus ứng dụng chỉ thị phân tử liên kết gần trong chọn giống lúa chịu ngập chìm

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Cây lúa (Oryza Sativa) là một trong những cây lƣơng thực quan trọng cho khoảng 2/3 dân số thế giới. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, thế giới có khoảng 156,1 triệu ha đất dùng cho việc trồng lúa, sản lƣợng là 697,9 triệu tấn, 90% diện tích này thuộc các nƣớc châu Á với 651 triệu tấn thóc chiếm 92% tổng sản lƣợng lúa gạo thế giới. (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2010)[3] Ở Việt Nam lúa là nguồn lƣơng thực chủ yếu của hơn 89 triệu dân với diện tích khoảng 7,4 triệu ha, năm 2010 sản xuất đƣợc 39,710 triệu tấn thóc, xuất khẩu khoảng 6,493 triệu tấn đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo sau Thái Lan. Ƣớc tính năm 2011 sản xuất khoảng 41,05- 41,5 triệu tấn.

Nƣớc ta có hai vùng trồng lúa chính là Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) diện tích 3,79 triệu ha chiếm 50% sản lƣợng lúa cả nƣớc và Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH) diện tích 1,18 triệu ha chiếm 17% sản lƣợng. (Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2009); MPI, 2009)[2][60] Trên thế giới, an ninh lƣơng thực không chỉ là vấn đề với các nƣớc nghèo mà nó đang trở thành vấn đề có tính toàn cầu. Dân số thế giới liên tục tăng (khoảng 7 tỷ ngƣời năm 2011) trong khi diện tích đất dành cho việc trồng lúa hầu nhƣ không tăng mà ngày càng giảm do đất đƣợc chuyển sang sử dụng cho các mục đích khác nhƣ xây dựng khu công nghiệp, trƣờng học, nhà ở, khu du lịch. Bên cạnh đó, các dấu hiệu về sự biến đổi khí hậu hiện nay đã có thể nhận thấy nhƣ trái đất đang nóng lên, băng tan ở hai cực, bão lũ xảy ra thƣờng xuyên.

Ở Việt Nam nhiệt độ trung bình hàng năm tăng 0,10C và mực nƣớc biển tăng 2,5 – 3,0 cm mỗi năm trong thập kỷ qua. Tính đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ ở Việt Nam sẽ tăng khoảng 2,30C và mực nƣớc biển tăng 75 cm tính theo mức trung bình các năm 1980 – 1999. Hàng năm có tới trên 20 triệu hecta chịu ảnh hƣởng của nƣớc biển dâng tại Nam và Đông Nam châu Á, hàng trăm nghìn ha hoa màu có thể bị ảnh hƣởng do hậu quả của nƣớc biển dâng vào cuối thế kỷ (MONRE, 2009)[61] 1 Vũ Thị Thu Hằng Đại học Khoa học Tự Nhiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ Khoa học Sinh học Do vậy, để ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời gian tới, các nhà khoa học trên thế giới ở các lĩnh vực khác nhau không ngừng nghiên cứu các khả năng làm giảm thiểu những yếu tố, tác nhân gây ảnh hƣởng tới môi trƣờng trái đất, quan tâm tới các nguồn năng lƣợng sạch trong tƣơng lai, tạo ra và phát triển các loại cây lƣơng thực vừa có năng suất, chất lƣợng cao, vừa thân thiện, thích nghi và bền vững trong điều kiệu môi trƣờng thay đổi khắc nghiệt. Hầu hết các loại cây trồng đều có tiềm năng chống chịu với các điều kiện sinh học và phi sinh học bất lợi.

Tuy nhiên, các giống cây trồng có khả năng chống chịu này thƣờng thuộc loài hoang dại, đi kèm với một số tính trạng không mong muốn khác nhƣ năng suất rất thấp, cao cây. Các nhà chọn giống hiện nay đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc đƣa gen quy định tính chống chịu với các điều kiện phi sinh học bất lợi từ giống này sang giống khác do sự đổ vỡ tính kháng và bản chất đa gen liên quan đến tính kháng của các tính trạng. Thêm vào đó, các chƣơng trình chọn giống cây trồng đặt ra hiện nay còn phải tính đến khả năng đối phó với các tác động kép của nhiều yếu tố phi sinh học bất lợi, xảy ra đồng thời trong cùng một thời vụ cây trồng do tác động của biến đổi khí hậu. Nhƣ vụ lúa Đông Xuân năm 2011 ở Việt Nam, cây trồng phải đối phó với thời tiết lạnh đầu vụ ở miền Bắc làm ảnh hƣởng tới khả năng sinh trƣởng phát triển của cây và thời tiết khô nóng ở thời điểm trỗ muộn, ĐBSCL đầu vụ hạn hán cuối vụ thiếu nƣớc ngọt do xâm nhập mặn sâu vào nội đồng với nồng độ mặn cao, điều này sẽ có khả năng ảnh hƣởng tới năng suất.

Định hƣớng chọn tạo giống chống chịu với điều kiện phi sinh học và sinh học nói chung trong thời gian tới là tạo giống bằng cách quy tụ nhiều gen khác nhau vào một giống lúa ƣu việt nhờ công nghệ sinh học. Do vậy, việc chọn tạo nhanh những giống lúa vừa có năng suất cao, chất lƣợng tốt, mang nhiều gen chống chịu với các điều kiện phi sinh học là công việc đƣợc quan tâm không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia khác. Bƣớc đột phá trong việc chọn giống chịu ngập chìm trở nên có thể thực hiện đƣợc sau khi các vùng chính trên nhiễm sắc thể (Quantitative trait loci- QTLs) điều 2 Vũ Thị Thu Hằng Đại học Khoa học Tự Nhiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ Khoa học Sinh học khiển tính chống chịu ngập chìm đƣợc xác định. Việc phát triển và sử dụng chỉ thị phân tử để đẩy nhanh quá trình quy tụ gen đó vào những giống mới năng suất cao thông qua phƣơng pháp chọn giống lai trở lại kết hợp với chỉ thị phân tử (marker assisted backcrossing - MABC; Thomson và ctv., 2009; Septiningsih và ctv., 2009; Singh và ctv., 2009) [87][77][78] đã đạt đƣợc các kết quả bƣớc đầu.

Phƣơng pháp chọn giống nhờ chỉ thị phân tử và lai trở lại (MABC) cho phép rút ngắn thời gian chọn lọc, và chọn lọc đƣợc những tính trạng khó hay nhiều gen cùng một lúc. Bằng con đƣờng chọn giống nhờ chỉ thị phân tử và lai trở lại nhiều gen chống chịu mặn, hạn, lạnh, chống chịu độc tố nhôm, sắt và gen quy định chất lƣợng đã đƣợc quy tụ thành công vào một số dòng lúa ở các nƣớc có nền công nghệ sinh học phát triển. Đối với gen chống chịu ngập cho đến nay các nhà khoa học ở Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế đã xác định đƣợc một số các chỉ thị phân tử liên kết chặt với gen có thể ứng dụng trong chọn giống, sử dụng phƣơng pháp MABC để chọn giống chịu ngập chìm. Để góp phần tạo ra giống lúa có khả năng chịu ngập chìm ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời gian tới, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất, chúng tôi thực hiện đề tài: ―Ứng dụng chỉ thị phân tử liên kết gần trong chọn giống lúa chịu ngập chìm”.

Đề tài đƣợc đề ra với mục tiêu cụ thể sau: - Sử dụng phƣơng pháp chọn giống nhờ chỉ thị phân tử kết hợp lai trở lại để quy tụ gen chịu ngập (Sub1) đã đƣợc xác định trƣớc vào giống lúa năng suất cao đang đƣợc trồng phổ biến ở Việt Nam với thời gian ngắn đáp ứng nhu cầu giống trong sản xuất. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở dữ liệu và vật liệu cho các nghiên cứu khoa học tiếp theo về gen chịu ngập (Sub1) trên cây lúa, đồng thời góp phần vào công tác chọn tạo giống lúa có khả năng chịu ngập, năng suất cao, phù hợp với điều kiện canh tác lúa vùng ngập lụt, giúp ngƣời nông dân tăng thêm thu nhập, giảm đói nghèo. 3 Vũ Thị Thu Hằng Đại học Khoa học Tự Nhiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ Khoa học Sinh học Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

ẢNH HƢỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, NƢỚC BIỂN DÂNG ĐẾN SẢN XUẤT LÚA GẠO 1. Ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu, nƣớc biển dâng đến sản xuất lúa gạo trên thế giới Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến động trạng thái trung bình của khí quyển toàn cầu hay khu vực theo thời gian từ vài thập kỷ đến hàng triệu năm. Những biến đổi này đƣợc gây ra do quá trình động lực của trái đất, bức xạ mặt trời, và gần đây có thêm hoạt động của con ngƣời. (IPCC,2007, Nguyễn Văn Cƣờng) [8] [47] Biến đổi khí hậu ngày nay không còn là vấn đề của một quốc gia hay của một khu vực mà là vấn đề toàn cầu.

Biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trƣờng trên phạm vi toàn thế giới. Nhiệt độ tăng, mực nƣớc biển dâng cao gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nƣớc, ảnh hƣởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội trong tƣơng lai. Những thách thức của biến đổi khí hậu đối với sản xuất lúa gạo là vô cùng quan trọng. Phần lớn lúa gạo mà thế giới sử dụng đƣợc trồng ở các vùng đất thấp hoặc vùng đồng bằng ở các quốc gia nhƣ Việt Nam, Bangladesh, Ấn Độ.

Những khu vực này lại có nguy cơ bị nƣớc biển xâm nhập khi mực nƣớc biển dâng cao, cho thấy sự cần thiết của các giống lúa có khả năng chịu đựng đƣợc cả tình trạng ngập nƣớc lẫn độ mặn cao. Lâu nay, châu Á là nơi sản xuất và tiêu thụ gạo cao nhất trên thế giới. Ngoài ra, châu Á còn là nơi xuất khẩu gạo chủ yếu. Trong đó, Thái Lan là nƣớc xuất khẩu gạo lớn nhất toàn cầu, lƣợng xuất khẩu hàng năm lên tới 9 triệu tấn.

Xét tới những thiệt hại trực tiếp trong lĩnh vực nông nghiệp cũng nhƣ tính thời vụ của sản xuất lƣơng thực của các nƣớc khu vực này, các chuyên gia cho rằng, ngoài một số nƣớc khu vực Đông Nam Á có thể phải đối mặt với khan hiếm gạo, 4 Vũ Thị Thu Hằng Đại học Khoa học Tự Nhiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ Khoa học Sinh học lƣợng cung cầu gạo trên thị trƣờng thế giới cũng sẽ bị thu hẹp ở mức độ nhất định, giá gạo chắc chắn sẽ tăng cao. Mỗi năm lũ lụt đã làm mất hàng triệu tấn lúa - chiếm khoảng 25% sản lƣợng lúa gạo, thất thoát hàng tỷ USD. Trong đó phổ biến nhất là ở châu Á, nơi sản xuất hơn 90% lúa gạo thế giới. Theo thống kê mới nhất của Tổ chức Nông lƣơng thế giới (FAO) hàng loạt hoa màu bao gồm lúa gạo bị tàn phá mang tính hủy hoại, trong đó diện tích lúa bị mất trắng ở các nƣớc nhƣ Thái Lan khoảng 12,5%, Philippines khoảng 6%, Campuchia khoảng 12%, Lào khoảng 7,5% và Việt Nam khoảng 0,4 %.

Ngoài ra, giá gạo trong nƣớc Campuchia, Việt Nam và Thái Lan cũng bắt đầu tăng, trong đó mức tăng giá gạo ở Campuchia dự đoán sẽ lên tới 50%. Ảnh hƣởng của mực nƣớc biển dâng đến khu vực Đông Á 1m 2m 3m 4m 5m Diện tích (Tổng = 14.767 km2) Khu vực ảnh hƣởng 74.,089 % trong tổng số 0,52 0,84 1,.26 1,76 2,30 Dân số (Tổng = 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ