CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ BLOCKCHAIN TRONG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS 1. Tổng quan về logistics 1. Khái niệm logistics Logistics mang nghĩa là “hậu cần” hoặc “tiếp vận” là thuật ngữ được sử dụng trong quân đội trong Chiến tranh Thế giới II.
Trong đó, các lực lượng quân đội đã sử dụng nhiều phương thức logistics hiệu quả để đảm bảo quân nhu được vận chuyên đúng nơi, đúng lúc. Sau đó, thuật ngữ này được sử dụng phổ biến trong hoạt động kinh tế. Cho đến nay, vẫn còn nhiều khái niệm khác nhau về logistics dựa trên mục đích nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, các tổ chức. Có thê kể đến một số khái niệm tiêu biêu như sau: Theo khái niệm do Hội đồng quản trị Logistics Hoa Ky (LAC) dua ra nim 1998, logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng di chuyển và lưu kho những nguyên vật liệu thô của hàng hóa trong quy trình, những hàng hóa thành phẩm và những thông tin có liên quan từ khâu mua sắm nguyên vật liệu cho.
đến khi được tiêu dùng, với mục đích thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng. Khái niệm này đã liệt kê các hoạt động cơ bản của logistics, nhấn manh logistics bao gom một chuỗi các hoạt động liên hoàn từ khâu lên kế hoạch cho đến khâu tiêu dùng. Đồng thời, nó cũng chỉ ra mục đích của logistics là nhằm thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng. Theo định nghĩa mới nhất mà Hội đồng các chuyên gia Quản trị Chuỗi cung ứng (CSCMP) Hoa Kỳ đưa ra nim 2001, logistics li một bộ phận của chu trình chuỗi cung ứng, bao gồm các quá trình hoạch định kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả việc dự trữ và lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, thông tin hai chiều giữa điểm khởi đầu và điểm tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Như vậy, logistics gắn liền và là một bộ phận của chuỗi cung ứng, liên quan đến các khâu của chuỗi cung ứng từ nhập nguyên, nhiên vật liệu qua các khâu của quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối đề đến tay người tiêu dùng cuối cùng, Theo Martin (2011), logistics là quá trình quản lý việc thu mua, vận chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu, thành phẩm tồn kho (và các luồng thông tin liên quan). Mục tiêu của logistics là đáp ứng nhu cầu của khách hàng thông qua sự phối hợp của các luồng nguyên liệu và thông tin. Christopher (2016) đã định nghĩa logistics là quá trình quản lý chiến lược vận chuyền và lưu trữ nguyên vật liệu, thành phâm tồn kho. từ nhà cung cấp, thông qua doanh nghiệp và tới khách hàng.
Tác giả cũng nhắn mạnh rằng logisties không chỉ là một tên gọi khác của vận tải ma vận tải chỉ là một bộ phận của logistics. Tại Việt Nam, Luật Thương mại 2005 định nghĩa dịch vụ logisics “la hoạt động thương mại, theo đó, thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyền, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Theo định nghĩa này, hoạt động logistics gần tương tự với hoạt động giao nhận hàng hóa. Những người kinh doanh cung cắp một trong các dịch vụ như: nhận hàng, vận chuyển, làm thủ tục,.
thì đều được coi là nhà cung cấp dịch vụ logistics. Logistics mang nhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ logistics khá giống với người cung. cấp dịch vụ vận tải đa phương thức (MTO). Trong phạm vi của Đề án tốt nghiệp này, logistics được hiểu là hoạt động quản lý dòng lưu chuyên của hàng hoá và thông tin từ khâu mua sắm nguyên vật liệu đầu vào, qua quá trình lưu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng.
Mục đích của hoạt động logistics là giảm tối đa chỉ phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh với một thời gian ngắn nhất trong quá trình vận động của nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cũng như phân phối hàng hoá một cách kịp thời để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng 1. Đặc điểm của logistics Khi xem xét bản chất của logistics, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những đặc điểm nổi bật của logisties như sau: Thứ nhất, logistics là một quá trình. Logistics không đơn thuần là một hoạt động riêng lẻ mà bao gồm hàng loạt các hoạt động liên hoàn từ lên kế hoạch, quản lý thực hiện và kiểm soát dòng lưu trữ, vận chuyển các tài nguyên (nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, hàng hóa), tài chính, thông tin từ nơi cung cấp đến kho. chứa, qua các nhà xưởng, các xí nghiệp, nhà máy, kho bãi, người bán buôn, người bán lẻ và đến tay người tiêu dùng (Maia và Cerra, 2009).
Để đưa hàng hóa và các yếu tố sản xuất từ nhà cung ứng đến người tiêu dùng một cách có hiệu quả, cần phải tổ chức thực hiện một chuỗi các hoạt động logistics liên tục có liên quan hữu cơ với nhau từ nghiên cứu, lập kế hoạch, tô chức, quản lý, kiểm tra, kiểm soát đến hoàn thiện các mục tiêu (Martin, 2011). Mỗi khâu của quá trình logistics lại có những đặc trưng. cơ bản song các khâu có tác động qua lại, liên quan mật thiết với nhau, hiệu quả ở khâu này làm tiền đề cho việc triển khai hoạt động ở các khâu tiếp theo và ảnh hưởng. đến hiệu quả chung.
Thứ hai, bản chất của quá trình logistics là quá trình tối tru hóa về vị trí và tối wu hóa các dòng vận động. Trong hoạt động logistics, mạng lưới hạ ting co sé được. lựa chọn để tối ưu hiệu quả và chỉ phí. Logistics cũng gắn liền với hoạch định quá trình lưu chuyên của các dòng hàng hoá, thông tin và tài chính nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, tận dụng hiệu quả nguồn lực của doanh nghiệp (Harrison và cộng sự, 2014).
Nói cách khác, mục tiêu của logistics là mang đến cho khách hàng sản phẩm, dịch vụ tốt nhất với chỉ phí hợp lý nhất. Đề làm được điều này, hoạt động. logistics cần cung cấp đúng số lượng nguyên vật liệu, hàng hoá, thông tin, tài chính,. đến đúng địa điểm và đùng thời gian đã đặt ra, đáp ứng các mục tiêu của logistics (Christopher, 2016).
Đây là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận. Thứ ba, logistics là một bộ phận của chuỗi cung ứng. Chuỗi cung ứng là một mạng lưới lưu chuyền vật tư, hàng hóa, thông tin và tiền tệ giữa các tô chức. Khi nói đến chuỗi cung ứng, người ta đề cập đến một chuỗi các mắt xích có quan hệ mật thiết với nhau đó là các chủ thể tham gia vào quá trình lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ, mạng lưới hạ tầng cơ sở (nhà xưởng, kho bãi, bến cảng, các trung tâm phân phối.), hệ thống phương tiện vận tải, hệ thống thông tin (Waters, 2009).
Các mắt xích này 10 được liên kết với nhau bởi quá trình mua bán, trao đôi các vật phẩm, dich vu. logistics chính là các hoạt động, dịch vụ được triển khai để kích hoạt chuỗi cung ứng đó, nó bao gồm các hoạt động để các mắt xích kia liên kết với nhau theo phương thức tối ưu nhất nhằm thỏa mãn khách hàng tốt nhất (Globerson va Wolbrum, 2014). Vai trò của logistics Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới theo hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa, logistics ngày càng có vai trò hết sức quan trọng trong nên kinh tế của mỗi quốc gia cũng như trong doanh nghiệp. Vai trò đối với nền kinh tế Thứ nhất, logistics là công cụ liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) như cung cắp, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường cho các hoạt động kinh tế (Nilsson, 2006).
Khi thị trường toàn cầu phát triển với các tiến bộ về công nghệ, đặc biệt là việc mở cửa thị trường ở các nước đang và chậm phát triển, logistics được các nhà quản lý coi như là công cụ, một phương tiện đề kết nói các lĩnh vực khác nhau của chiến lược doanh nghiệp. Logistics tạo ra sự hữu dụng về thời gian và địa điểm cho các hoạt động của doanh nghiệp. Thứ hai, logistics phat triển góp phần mở rộng thị trường trong thương mại quốc tế, nâng cao mức hưởng thụ của người tiêu dùng, đồng thời, góp phần chuyên dịch cơ cấu kinh tế. Logistics có tác dụng kết nối trong việc chuyên dịch hàng hóa trên các tuyến đường mới đến các thị trường mới, đúng yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt ra (Waters, 2009).
Logistics phát triển có tác dụng rất lớn trong việc khai thác và mở rộng thị trường kinh doanh cho các doanh nghiệp, đặc biệt trong việc nâng cao mức hưởng thụ của người tiêu dùng, góp phần vào chuyên dịch cơ cấu kinh tế. Thứ ba, logisties có tác dụng tiết kiệm và giảm chỉ phí trong quá trình phân phối và lưu thông hàng hóa. Giá cả hàng hóa trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộng với chỉ phí lưu thông. Chỉ phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là phí vận tải chiếm một tỷ lệ không nhỏ và là bộ phận cấu thành giá cả hàng hóa trên thị trường, đặc biệt là hàng hóa trong buôn bán quốc tế (Sweeney và cộng sự, 2017).
Vận tải có nhiệm vụ đưa hàng hóa đến nơi tiêu dùng và tạo khả năng để thực hiện giá trị và giá 11 trị sử dụng của hàng hóa. Trong thương mại quéc té, chi phi van tai chiém ty trong khá lớn. Mà vận tải là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống logistics cho nên logistics cảng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm chỉ phí vận tải và các chỉ phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông (Globerson và Wolbrum, 2014). Thứ tư, logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia.
Việc hình thành và phát triển dịch vu logistics sẽ giúp các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân giảm được chỉ phí trong chuỗi logistics, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh tỉnh giản hơn và đạt hiệu quả hơn góp phần nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia và doanh nghiệp trên thị trường. Các quốc gia sẽ xích lại gần nhau hơn trong hoạt động sản xuất và lưu thông (Topps và Taylor, 2018) 1. Vai trò đối với doanh nghiệp Thứ nhất, logistics hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động. sản xuất kinh doanh (Li, 2014).