Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam giữ vị trí trọng yếu trong cơ cấu nông nghiệp, cung cấp trên 70% sản lượng thịt cho thị trường tiêu dùng thực phẩm, đồng thời đóng góp nguồn phân bón cho trồng trọt và các phụ phẩm (da, mỡ) cho công nghiệp chế biến. Để nâng cao năng suất và chất lượng thịt, các giống lợn ngoại như Yorkshire, Landrace, Duroc và Pietrain đã được nhập khẩu để nuôi thuần, lai kinh tế và tạo giống mới. Các giống lợn ngoại sở hữu nhiều ưu điểm như thành thục sớm, tốc độ tăng trọng nhanh, tỷ lệ nạc cao và giá trị kinh tế vượt trội.
Tuy nhiên, việc chăn nuôi lợn nái ngoại đòi hỏi quy chuẩn kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh thú y khắt khe. Trong điều kiện chăn nuôi tập trung, đàn nái sinh sản rất dễ mắc các bệnh lý đường sinh sản như viêm tử cung, viêm vú, đẻ khó và thai chết lưu. Các tổn thương bệnh lý tại đường sinh dục làm giảm sức đề kháng của lợn mẹ, giảm tỷ lệ thụ thai, gây mất sữa làm suy giảm thể trạng đàn con theo mẹ, hạ thấp năng suất sinh sản và tăng tỷ lệ loại thải đàn nái. Nhằm giải quyết thực trạng trên, đề tài khóa luận "Xác định tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản ở lợn nái ngoại và thử nghiệm một số phác đồ điều trị" được thực hiện.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể theo văn bản:
- Xác định được tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại Công ty TNHH Phương Hà, xã Hương Lung, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
- Thử nghiệm một số phác đồ điều trị nhằm xác định phác đồ mang lại hiệu quả trị bệnh tối ưu.
Đối tượng nghiên cứu là đàn lợn nái ngoại đang trong giai đoạn sinh sản và các hội chứng bệnh sinh sản thường gặp (viêm tử cung, viêm vú, đẻ khó, sẩy thai). Phạm vi không gian nghiên cứu được tiến hành tại trang trại chăn nuôi lợn giống quy mô 1.200 lợn nái thuộc Công ty TNHH Phương Hà (xã Hương Lung, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ) – đơn vị liên kết gia công với Công ty TNHH Chăn nuôi C.P. Việt Nam. Thời gian thực hiện đề tài kéo dài từ ngày 18/05/2016 đến ngày 18/11/2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên giải phẫu học cơ quan sinh dục lợn nái (bao gồm bộ phận sinh dục ngoài: âm môn, âm vật, tiền đình; bộ phận sinh dục trong: âm đạo, tử cung với cấu trúc sừng tử cung dài 0,5 - 1 m, buồng trứng, ống dẫn trứng) và giải phẫu tuyến vú (cấu trúc bầu vú, núm vú, hệ thống bao tuyến và ống dẫn sữa). Về bệnh lý học, tác giả tổng quan chi tiết các hội chứng:
- Bệnh viêm tử cung: Thường xuất hiện sau đẻ 2 - 3 ngày do vi khuẩn xâm nhập khi cổ tử cung mở. Căn nguyên vi sinh vật chính được tổng hợp gồm Streptococcus (34,5%), Escherichia coli (27%), Proteus vulgaris (16%), Staphylococcus (11,2%), Klebsiella (10,2%). Bệnh diễn biến qua 3 thể: viêm nội mạc, viêm cơ và viêm tương mạc.
- Bệnh viêm vú: Xảy ra do vi khuẩn xâm nhập qua vết trầy xước hoặc núm vú, chủ yếu do Streptococcus (27,18% - 86%), E. coli (1,2% - 18,2%), Staphylococcus (5,4% - 19%), Klebsiella (14,7%). Các thể bệnh lâm sàng gồm: thể thanh dịch, thể cata, thể fibrin, thể cata có mủ, thể áp xe, thể plegemol và thể có màu.
- Hội chứng MMA (Metritis - Mastitis - Agalactia): Phức hợp viêm vú - viêm tử cung - mất sữa sau đẻ (PDS), gây sốt cao (40 - 41°C), giảm ăn và làm tăng tỷ lệ tử vong ở lợn con lên đến 80% do đói và tiêu chảy.
- Bệnh đẻ khó và sẩy thai: Cơ chế liên quan đến thể trạng mẹ (độ dày mỡ lưng P2 > 23 mm gây tích mỡ quanh tử cung, hẹp khung chậu, thiếu hụt hormone Relaxin hoặc Prostaglandin) hoặc do thai (thai to, ngôi thai ngược, quái thai). Hiện tượng sẩy thai được phân loại theo thời gian (sẩy thai, đẻ non), theo bệnh lý (toàn phần, không toàn phần, tiêu thai, thai khô, nhuyễn thai, thai chướng to thối rữa) và theo nguyên nhân (truyền nhiễm: Brucella, Vibrio, Dịch tả, PRRS; không truyền nhiễm: thiếu Vitamin A, D, E, chấn thương cơ học).
Phương pháp nghiên cứu lâm sàng bao gồm bốn kỹ thuật khám thú y truyền thống: quan sát (Inspectio), sờ nắn (Palpatio), gõ (Percussio) và nghe (Auscultatio). Phương pháp bố trí thí nghiệm điều trị được thực hiện theo nguyên tắc chia lô ngẫu nhiên đối chứng: chọn các lợn nái mắc bệnh có triệu chứng điển hình, chia thành 2 lô tương đương để khảo nghiệm các phác đồ điều trị.
Bảng so sánh phác đồ thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung:
| Yếu tố kỹ thuật |
Phác đồ 1 |
Phác đồ 2 |
| Thuốc kích cơ trơn |
Oxytocin: 2 ml/con/12 giờ, tiêm mép âm môn liên tục 3 ngày |
Oxytocin: 2 ml/con/12 giờ, tiêm mép âm môn liên tục 3 ngày |
| Kháng sinh tiêm |
Vetrimoxin L.A: 1 ml/10 kg thể trọng, tiêm bắp cách ngày, đợt 3 - 5 ngày |
Hitamox LA: 1 ml/10 kg thể trọng, tiêm bắp cách ngày, đợt 3 - 5 ngày |
| Dung dịch thụt rửa |
KMnO4 0,1% (500 ml/lần), thụt rửa 1 - 2 lần/ngày, liên tục 3 ngày |
Cồn Iodine 5% (500 ml/lần), thụt rửa 1 - 2 lần/ngày, liên tục 3 ngày |
| Thuốc trợ sức |
Vitamin C, ADE: 5 - 10 ml/con/ngày, tiêm bắp 3 - 5 ngày |
Vitamin C, ADE: 5 - 10 ml/con/ngày, tiêm bắp 3 - 5 ngày |
Bảng so sánh phác đồ thử nghiệm điều trị bệnh viêm vú:
| Yếu tố kỹ thuật |
Phác đồ 3 |
Phác đồ 4 |
| Kháng sinh tiêm |
Oxytetracycline 200 LA: 1 ml/10 kg thể trọng, tiêm bắp cách ngày, đợt 3 - 5 ngày |
Hitamox LA: 1 ml/10 kg thể trọng, tiêm bắp cách ngày, đợt 3 - 5 ngày |
| Thuốc bổ trợ |
Vitamin C, B-complex: 5 - 10 ml/con/ngày, tiêm bắp 3 - 5 ngày |
Vitamin C, B-complex: 5 - 10 ml/con/ngày, tiêm bắp 3 - 5 ngày |
| Hộ lý điều trị |
Dùng khăn sạch nhúng nước ấm 37°C xoa bầu vú 3 lần/ngày |
Dùng khăn sạch nhúng nước ấm 37°C xoa bầu vú 3 lần/ngày |
Các chỉ tiêu dịch tễ được xác định bằng công thức toán học thống kê: tỷ lệ mắc bệnh (%), tỷ lệ khỏi bệnh (%), tỷ lệ chết (%), thời gian điều trị trung bình (ngày/con), tỷ lệ thụ thai (%). Toàn bộ số liệu thực nghiệm được xử lý theo phương pháp thống kê sinh vật học của Nguyễn Văn Thiện (2008) trên phần mềm Microsoft Excel 2007.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả phân tích vị trí chiến lược của ngành chăn nuôi lợn đối với nguồn cung thực phẩm quốc gia, đánh giá xu hướng nhập nội các giống thuần ngoại nhằm cải thiện năng suất thịt nạc. Đặt trong bối cảnh thực tiễn chăn nuôi quy mô lớn, tác giả chỉ rõ rào cản kỹ thuật lớn nhất là tính mẫn cảm cao của đàn nái ngoại đối với các bệnh sinh sản, từ đó xác lập tính cấp thiết, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của khóa luận.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này mô tả chi tiết điều kiện địa lý, khí hậu (nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 23°C, độ ẩm 85 - 87%) và giao thông huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Cơ sở thực tập là trang trại có tổng diện tích 5 ha (2,5 ha khu chuồng nuôi khép kín, 1 ha hồ nước, còn lại là nhà điều hành và công trình phụ trợ), quy mô nuôi 1.200 nái gồm 3 chuồng đẻ (120 ô/chuồng, kích thước 2,4 m × 1,6 m/ô), 1 chuồng bầu (1.056 ô, kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô), 3 chuồng cách ly và 1 chuồng đực giống (20 ô). Hệ thống chuồng trang bị giàn làm mát, quạt hút thông gió, trạm biến áp riêng 110 kV và máy phát điện dự phòng. Nhân sự gồm 31 người (5 lao động gián tiếp, 26 lao động trực tiếp). Về lý luận chuyên môn, tác giả hệ thống hóa đặc điểm giải phẫu học cơ quan sinh sản, tuyến vú, cơ chế bệnh sinh của viêm tử cung, viêm vú, đẻ khó, sẩy thai và tổng thuật các công trình nghiên cứu trong nước (Bùi Thị Tho, Trần Tiến Dũng, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Hoài Nam...) lẫn quốc tế (Martineau, Shrestha, Kemper, Maes...).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp tiến hành
Xác lập đối tượng nghiên cứu trên đàn lợn nái ngoại sinh sản tại trại Phương Hà từ tháng 5/2016 đến tháng 11/2016. Trình bày chi tiết quy trình chăn nuôi chuẩn của trại C.P.:
- Nái chửa: Tuần 1 - 12 ăn cám 566SF (2 kg/con/ngày); tuần 13 - 14 ăn cám 566SF (3 - 3,5 kg/con/ngày); từ tuần 15 ăn cám 567SF (3 - 3,5 kg/con/ngày). Tắm ghẻ định kỳ vào thời điểm 14 ngày và 7 ngày trước ngày dự kiến đẻ.
- Nái chờ đẻ: Chuyển lên chuồng đẻ trước 7 - 10 ngày, khẩu phần 3 - 4 kg/ngày chia 2 bữa; trước đẻ 3 ngày giảm dần 0,5 kg/ngày xuống mức 1 kg/con/ngày (hoặc 1,5 kg nếu nái gầy).
- Nái nuôi con: Ngày đẻ ăn 0,5 kg hoặc nhịn ăn, uống tự do; ngày 1, 2, 3 ăn lần lượt 1, 2, 3 kg; ngày 4 - 7 ăn 4 kg/ngày; từ ngày thứ 8 áp dụng công thức: Lượng thức ăn (kg/ngày) = 2 + (số con × 0,35). Giảm 20 - 30% thức ăn trước ngày cai sữa 1 ngày và cho nhịn ăn ngày cai sữa.
- Lợn con: Bấm/mài nanh, cắt rốn sơ sinh; 2 - 3 ngày tuổi bấm tai, cắt đuôi, tiêm sắt (Fe-Dextran-B12); 3 - 4 ngày tuổi cho uống thuốc phòng cầu trùng; 4 - 5 ngày tuổi thiến đực; 5 - 7 ngày tuổi tập ăn cám 550; 15 ngày tuổi tiêm vắc-xin suyễn; 16 - 18 ngày tuổi tiêm dịch tả; cai sữa lúc 18 - 22 ngày tuổi.
Chương này cũng xác định quy cách thử nghiệm 4 phác đồ điều trị viêm tử cung và viêm vú.
Phần 4: Kết quả và thảo luận
Nội dung chương trình bày hai mảng kết quả:
- Kết quả phục vụ sản xuất: Phản ánh biến động cơ cấu đàn trong 3 năm (2014 - 2016), quy trình vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng trại theo lịch tuần, quy trình tiêm phòng vắc-xin đạt 100% chỉ tiêu cho các đối tượng lợn, cùng kết quả điều trị bệnh tiêu chảy (khỏi 97,67%), phân trắng lợn con (khỏi 97,77%) và viêm tử cung sản xuất (khỏi 97,4%). Mô tả chi tiết kỹ thuật thủ thuật can thiệp đẻ khó và quy trình phẫu thuật mổ bụng lấy thai (vật lợn nghiêng trái, gây tê Novocain 3% liều 50 ml, rạch đường mổ 15 - 20 cm tại vị trí hông phải).
- Kết quả thực hiện đề tài: Tổng hợp tình hình mắc bệnh sinh sản theo lứa đẻ, theo tháng theo dõi; mô tả triệu chứng lâm sàng điển hình và so sánh hiệu lực trị liệu giữa các phác đồ thử nghiệm.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Đưa ra kết luận tổng quan về tình hình mắc bệnh sinh sản trên đàn nái ngoại tại cơ sở nghiên cứu và khẳng định tính hiệu quả của các phác đồ thử nghiệm; đồng thời đề xuất kiến nghị với cơ sở sản xuất về việc duy trì nghiêm ngặt quy trình vệ sinh phòng dịch, quản lý chế độ dinh dưỡng và chuẩn hóa kỹ thuật can thiệp sinh sản.
Kết quả và đóng góp
Về công tác phục vụ sản xuất, tác giả đã thống kê toàn diện cơ cấu đàn lợn của trại trong giai đoạn 2014 - 2016:
| Loại lợn |
Năm 2014 (con) |
Năm 2015 (con) |
Năm 2016 (con) |
| Lợn đực giống |
20 |
22 |
23 |
| Lợn nái sinh sản |
1.239 |
1.265 |
1.226 |
| Lợn con |
31.873 |
32.542 |
28.910 |
| Lợn hậu bị |
120 |
120 |
150 |
| Tổng cộng |
33.252 |
33.949 |
30.309 |
Ghi chú số liệu: Năm 2016 xảy ra sự cố mất điện 1 ngày làm chết 81 lợn nái; số lượng lợn con năm 2016 chỉ tính đến tháng 11.
Công tác tiêm phòng vắc-xin cho đàn lợn đạt tỷ lệ an toàn 100% đối với toàn bộ số con được tiêm:
- Parvovirus (lợn hậu bị sau nhập 5 tuần): tiêm 150 con, tỷ lệ 100%.
- Dịch tả lợn Colapest (nái chửa 70 ngày: 60 con; lợn con 18 ngày tuổi: 3.110 con, tỷ lệ 84,35%).
- Lở mồm long móng Aftopor (nái chửa 84 ngày): tiêm 60 con.
- PRRS (rối loạn hô hấp và sinh sản): tiêm định kỳ tháng 3, 7, 11 trên 1.226 nái, đạt 100%.
- Giả dại Begonia: tiêm định kỳ tháng 4, 8, 12 trên 1.226 nái, đạt 100%.
- Ký sinh trùng Idectin: tiêm định kỳ tháng 6, 12 trên 1.226 nái, đạt 100%.
- Phòng bệnh lợn con: Tiêm Fe-Dextran-B12 (3.687 con, 100%), uống phòng cầu trùng Toltrazuril (3.687 con, 100%), tiêm phòng suyễn Mycoplasma lúc 15 ngày tuổi (3.110 con, 84,35%).
Kết quả điều trị các ca bệnh thực tế trong công tác phục vụ sản xuất:
| Tên bệnh |
Số con điều trị (con) |
Số con khỏi (con) |
Tỷ lệ khỏi (%) |
Thuốc/Phác đồ sử dụng |
| Tiêu chảy ở lợn |
215 |
210 |
97,67 |
CP Nor 100 + Gentamycin + Atropin (1 ml/10 kg thể trọng) |
| Phân trắng lợn con |
225 |
220 |
97,77 |
CP Nor 100 + MD Tylogenta + Atropin kết hợp men và điện giải |
| Viêm tử cung |
117 |
114 |
97,40 |
Vetrimoxin L.A hoặc Hitamox LA kết hợp dung dịch thụt rửa |
Về quy trình can thiệp đẻ khó: Áp dụng các bước từ hỗ trợ tự nhiên (xoa bóp bầu vú nước ấm, cho lợn con bú để kích thích co bóp tự nhiên), can thiệp thủ thuật đỡ đẻ bằng tay có bôi trơn vaselin sau khi sát trùng, sử dụng Oxytocin liều 4 - 6 ml tiêm bắp, đến phẫu thuật mổ bụng mở tử cung bắt con (gây tê Novocain 3% liều 50 ml, đường mổ 15 - 20 cm) khi các biện pháp khác không hiệu quả.
Về giải pháp và đóng góp khoa học: Tác giả đã cụ thể hóa quy trình kỹ thuật chăn nuôi và phòng trị bệnh sinh sản phù hợp với quy mô công nghiệp; xác lập cơ sở thực nghiệm cho việc áp dụng kháng sinh tác dụng kéo dài kết hợp hoạt chất co bóp tử cung và thụt rửa sát trùng tại chỗ, giúp giảm thiểu tỷ lệ loại thải đàn nái ngoại tại trang trại gia công.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với điều kiện thực tế được văn bản ghi nhận:
- Thời gian theo dõi thực địa giới hạn trong 6 tháng (từ 18/05/2016 đến 18/11/2016), chưa bao quát toàn bộ chu kỳ thời tiết các mùa trong năm để đánh giá triệt để quy luật dịch tễ học theo mùa.
- Nghiên cứu thực hiện đơn lẻ tại một cơ sở chăn nuôi (Công ty TNHH Phương Hà), số liệu đàn nái năm 2016 chịu tác động bởi sự cố mất điện đột ngột làm chết 81 lợn nái, và số liệu lợn con chỉ dừng lại ở tháng 11/2016.
- Phương pháp chẩn đoán các bệnh sinh sản tại trại chủ yếu dựa trên khám lâm sàng (quan sát dịch viêm, đo thân nhiệt, sờ nắn bầu vú), chưa thực hiện xét nghiệm nuôi cấy vi sinh vật chuyên sâu và kháng sinh đồ từ mẫu bệnh phẩm của từng lợn nái thí nghiệm.
Hướng nghiên cứu mở rộng: Tiếp tục theo dõi dịch tễ học bệnh sinh sản trên nái ngoại qua nhiều năm liên tục; tiến hành lấy mẫu dịch viêm tử cung và sữa viêm để phân lập chủng vi khuẩn và kiểm tra độ mẫn cảm kháng sinh (kháng sinh đồ); theo dõi khả năng hồi phục sinh sản và tỷ lệ thụ thai, số con sơ sinh/lứa của đàn nái ở các lứa đẻ tiếp theo sau khi điều trị khỏi bệnh.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo thực tiễn có giá trị chuyên môn đối với:
- Sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Chăn nuôi - Thú y làm tài liệu học tập, thực tập tốt nghiệp và xây dựng đề cương nghiên cứu về sản khoa gia súc.
- Kỹ thuật viên, bác sĩ thú y trực tiếp quản lý kỹ thuật tại các trang trại chăn nuôi lợn nái sinh sản quy mô công nghiệp hoặc các trại chăn nuôi gia công.
- Người chăn nuôi lợn sinh sản cần tham khảo định mức dinh dưỡng chi tiết cho từng giai đoạn nái (chửa, chờ đẻ, nuôi con), lịch trình sát trùng chuồng trại định kỳ theo tuần và lịch tiêm phòng vắc-xin bảo vệ đàn giống.
- Các phần có giá trị thực hành cao nhất gồm: quy trình tính toán khẩu phần thức ăn cho lợn nái nuôi con theo số lượng lợn con, hướng dẫn chi tiết các bước xử lý và phẫu thuật mổ đẻ trên lợn nái, cùng cấu trúc các phác đồ phối hợp kháng sinh L.A và thuốc trợ sức.
Câu hỏi thường gặp
1. Khẩu phần ăn hàng ngày của lợn nái nuôi con từ ngày thứ 8 sau khi đẻ đến lúc cai sữa được xác định như thế nào?
Khẩu phần được tính toán theo công thức định lượng: Lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con × 0,35 kg), chia làm 2 bữa (sáng, chiều). Trường hợp lợn mẹ thể trạng gầy được cộng thêm 0,5 kg thức ăn/ngày; lợn mẹ béo bị bớt 0,5 kg/ngày. Đối với nái nuôi trên 10 con, đàn con mập mà lợn mẹ gầy, trại cho ăn theo khả năng tối đa bằng cách tăng số bữa ăn trong ngày.
2. Lịch sát trùng tiêu độc chuồng trại bên trong khu vực nái được bố trí như thế nào trong một tuần?
Lịch sát trùng trong chuồng được phân chia theo ngày: Thứ 2 phun sát trùng chuồng đẻ, chuồng bầu, chuồng cách ly; Thứ 3 phun sát trùng chuồng đẻ và chuồng cách ly; Thứ 4 xả vôi xút gầm chuồng đẻ, chuồng bầu và phun sát trùng chuồng cách ly; Thứ 5 phun thuốc trừ ghẻ chuồng đẻ và chuồng cách ly, xả vôi xút gầm chuồng bầu; Thứ 6 phun sát trùng kết hợp rắc vôi toàn bộ các chuồng; Thứ 7 làm vệ sinh tổng thể toàn bộ các chuồng; Chủ nhật phun sát trùng chuồng đẻ và chuồng bầu.
3. Thành phần và liều lượng sử dụng trong hai phác đồ thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung gồm những gì?
Cả hai phác đồ đều tiêm Oxytocin (2 ml/con/12 giờ vào mép âm môn, liên tục 3 ngày) và thuốc trợ sức Vitamin C, ADE (5 - 10 ml/con/ngày, tiêm 3 - 5 ngày). Khác biệt nằm ở kháng sinh và thuốc thụt rửa: Phác đồ 1 tiêm bắp Vetrimoxin L.A (1 ml/10 kg thể trọng, tiêm cách ngày, liệu trình 3 - 5 ngày) kết hợp thụt rửa tử cung bằng 500 ml dung dịch KMnO4 0,1% (1 - 2 lần/ngày, 3 ngày); Phác đồ 2 tiêm bắp Hitamox LA (1 ml/10 kg thể trọng, tiêm cách ngày, liệu trình 3 - 5 ngày) kết hợp thụt rửa bằng 500 ml dung dịch cồn Iodine 5% (1 - 2 lần/ngày, 3 ngày).
4. Quy trình tiêm phòng vắc-xin và phòng bệnh cho lợn con theo mẹ tại trang trại diễn ra tại các mốc ngày tuổi nào?
Lợn con được tiêm sắt Fe-Dextran-B12 (2 ml/con, tiêm bắp) và uống thuốc phòng cầu trùng Toltrazuril (1 ml/con) lúc 3 ngày tuổi; tiêm vắc-xin phòng bệnh suyễn Mycoplasma (2 ml/con, tiêm bắp) lúc 15 ngày tuổi; và tiêm vắc-xin phòng bệnh Dịch tả lợn Colapest (2 ml/con, tiêm bắp) lúc 18 ngày tuổi.
5. Khi can thiệp đẻ khó không thành công bằng thủ thuật đỡ đẻ thông thường và tiêm Oxytocin, kỹ thuật phẫu thuật mổ đẻ được tiến hành ra sao?
Lợn mẹ được vật cố định nằm nghiêng sang bên trái, sát trùng vùng mổ bằng cồn Iod 5% và gây tê cục bộ bằng dung dịch Novocain 3% liều 50 ml. Vị trí mổ nằm ở bên hông phải, là giao điểm giữa đường kẻ từ mỏm hông xuống bụng và đường giữa mỏm hông với khớp đùi chày song song cột sống (vết rạch dịch về phía trước 2 - 3 cm). Đường mổ dài 15 - 20 cm theo hướng chéo từ trên xuống dưới, từ trước ra sau để tiếp cận xoang bụng và sừng tử cung đưa thai ra ngoài.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nông Thị Mai đã phản ánh trung thực thực trạng dịch tễ học các bệnh sinh sản thường gặp trên đàn lợn nái ngoại nuôi tập trung tại Công ty TNHH Phương Hà, tỉnh Phú Thọ. Công trình cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm chuẩn xác về cơ cấu đàn, chỉ tiêu an toàn vắc-xin đạt 100% và hiệu quả điều trị phục vụ sản xuất đạt trên 97% đối với các chứng bệnh phổ biến. Các quy trình chăm sóc nái theo chu kỳ sinh lý và giải pháp phác đồ kháng sinh thử nghiệm được xây dựng bài bản, tạo nguồn tư liệu kỹ thuật ứng dụng hữu ích cho công tác thú y lâm sàng và quản trị chăn nuôi lợn sinh sản hiện đại.