phần mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tuyển dụng và đào tạo nhân lực tại doanh nghiệp xây dựng. Phân tích thực trạng tuyển dụng và đào tạo nhân lực tại Tổng công ty xây dựng Thành An. Chƣơng 3: Một số giải pháp cơ bản hoàn thiện tuyển dụng và đào tạo nhân lực tại Tổng công ty xây dựng Thành An. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUYỂN DỤNG VÀ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 1.1 Nhân lực và quản lý nhân lực tại các doanh nghiệp xây dựng 1.1 Khái niệm nhân lực và các yêu cầu đối với nhân lực tại doanh nghiệp xây dựng 1.1 Khái niệm Nhân lực là nguồn lực con người.
Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nhân lực nằm trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, nhân lực được hiểu là tổng thể nhân lực của từng cá nhân con người.
Với tư cách là một nhân lực của quá trình phát triển, nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định. Khái niệm nhân lực được sử dụng rộng rãi ở các nước có nguồn kinh tế phát triển từ những năm giữa thế kỷ thứ XX, với ý nghĩa là nguồn lực con người, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển. Nội hàm nhân lực không chỉ bao hàm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lượng mà còn chứa đựng hàm ý rộng hơn. Ở nước ta khái niệm nhân lực được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới.
Điều này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về nhân lực. Theo giáo sư viện sỹ Phạm Minh Hạc, nguồn lực con người được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người ( bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất). Như vậy, nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai. Từ những sự phân tích trên, có thể hiểu nhân lực như sau: Nhân lực của một doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xây dựng nói 6 riêng chính là những người lao động làm việc trong doanh nghiệp đó.
Nó được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định của doanh nghiệp. NL khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con người tạo ra, do chính giá trị sức lao động của con người tạo ra. Để nâng cao vai trò của con người, của NL trong tổ chức thì việc quan tâm đến công tác đài tạo, phát triển NL là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với mọi hoạt động SXKD. NL được hiểu là nguồn lực về con người tồn tại trong từng con người, nó gồm cả trí lực và thể lực.
Trí lực thể hiện ở sự suy nghĩ, nhận biết của con người đối với thế giới xung quanh, thể lực là sức khỏe, khả năng lao động bằng cơ bắp, chân tay. Nó phản ánh khả năng lao động của mỗi con người và là điều kiện cần thiết của quá trình lao động sản xuất xã hội.2 Yêu cầu đối với NL trong doanh nghiệp xây dựng a/ Số lượng nhân lực. Số lượng nhân lực trong doanh nghiệp xây dựng là tổng số người được doanh nghiệp đó thuê mướn, được trả công và được ghi vào trong danh sách nhân sự của doanh nghiệp đó. Số lượng nhân lực cần thiết cho các doanh nghiệp xây dựng có thể thay đổi theo công trình, theo mùa vụ xây dựng.
Số lượng nhân lực cũng có thể thay đổi theo tính chất của từng loại công trình, đối với công trình lớn cần số lượng nhân lực lớn huy động về cho công trình,đối với các công trình nhỏ và vừa, số lượng nhân lực có thể ít hơn. b/ Chất lượng nhân lực. Chất lượng lao động của doanh nghiệp xây dựng được thể hiện thông qua các tiêu chí: + Nhóm 1 bao gồm những hành vi và giá trị người lao động, ví dụ như sự tận tụy với công việc, có tinh thần vượt khó trong công việc, kỷ luật lao động tốt, … Đây là những tố chất được tạo ra trong quá trình đào tạo học tập ở trường, truyền thông gia đình, kinh nghiệm trong công việc, … Công việc xây dựng là công việc nặng nhọc, tính chất phức tạp cao, đòi hỏi khắt khe về sự an toàn cũng như sự thận trọng. Chính vì vậy, kỷ luật lao động, sự tận tụy là yêu cầu rất quan trọng đối với 7 nhân lực xây dựng.
+ Nhóm 2 thuộc về trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng người lao động. Đó là khả năng vận dụng kiến thức thu nhận được vào thực tế công việc. Nhân lực ngành xây dựng cần có trình độ, kiến thức và kỹ năng chuyên môn về ngành xây dựng, ít nhất họ cũng phải được đào tạo cơ bản về ngành xây dựng cũng như các kiến thức liên quan. + Nhóm 3 liên quan đến yêu cầu về sức khỏe thể chất của nhân lực ngành xây dựng.
c/ Cơ cấu nhân lực: Cơ cấu nhân lực của doanh nghiệp xây dựng thể hiện ở cơ cấu giới tính, cơ cấu độ tuổi lao động, cơ cấu ngành xây dựng theo chức năng, nhiệm vụ.Đối với các doanh nghiệp xây dựng, khối lao động gián tiếp thì cơ cấu giới tính, cơ cấu độ tuổi.hầu như không có gì khác biệt lớn so với các doanh nghiệp khác, tuy nhiên đối với khối lao động trực tiếp, đa số nhân lực là nam giới chịu trách nhiệm thực hiện những công việc nặng tại các công trường xây dựng. Độ tuổi của đội ngũ lao động này ( nhất là đối với thợ lái máy kỹ thuật cao) thường dao động từ 26 đến 45 tuổi để đảm bảo những yêu cầu về sức khỏe, kỹ năng và kinh nghiệm.2 Quản lý nhân lực tại các doanh nghiệp xây dựng “ Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, bởi vậy, nhân lực cũng được coi là một trong số những nguồn lực quan trọng nhất của các doanh nghiệp xây dựng , vì vậy quản lý nhân lực luôn là một bộ phận quan trọng nhất của quản lý doanh nghiệp xây dựng. Vấn đề quản lý nhân lực không chỉ là trách nhiệm của riêng những người làm công tác nhân sự mà còn của toàn bộ những người làm công tác quản lý trong doanh nghiệp xây dựng. Quản lý nhân lực liên quan đến con người và những nhưng tố xác định mối quan hệ giữa con người với tổ chức sử dụng con người đó.
Tại một thời điểm nào đó trong quá trình hoạt động của nó, một tổ chức có thể cần ít hoặc nhiều nhân lực tùy thuộc vào yêu cầu của các hoạt động trong tổ chức. Quản lý nhân lực đảm bảo cho tổ chức có những nhân lực có kỹ năng , được sắp xếp vào những vị trí phù hợp theo đòi hỏi công việc trong tổ chức. 8 Vì vậy, quản lý nhân lực là một quá trình tuyển mộ, lựa chọn, duy trì, phát triển và tạo mọi điều điện có lợi cho nhân lực trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra của tổ chức đó. Trong thực tế, hoạt động quản lý nhân lực rất khác nhau, đa dạng, phong phú tùy theo đặc điểm của từng doanh nghiệp xây dựng.
Từ mục tiêu quản lý nhân lực của doanh nghiệp xây dựng sẽ có những hoạt động quản lý nhân lực cụ thể. Hoạt động quản lý nhân lực gồm những nội dung sau: 1/ Lập chiến lược nhân lực: đây là quá trình thiết lập hoặc lựa chọn chiến lược nhân lực và và các chương trình hoặc các nguồn lực để thực hiện chiến lược đã đề ra. Lập chiến lược nhân lực gồm các bước sau:Xác định mục tiêu chiến lược nhân lực, phân tích môi trường dựa vào 4 yếu tố: mức độ không chắc chắn, tần suất của sự biến động, mức độ thay đổi, tính phức tạp, phân tích nhân lực và hệ thống quản lý nhân lực ( số lượng , chất lượng), phân tích chiến lược tổng thế và chiến lược bộ phận của tổ chức nhằm xác định nhu cầu về nhân lực và đổi mới quản lý nhân lực, đánh giá lại mục tiêu chiến lược nhân lực xem mục tiêu đặt ra ở bước một có thực tế không, có cần thay đổi không, nếu thay đổi thì thay đổi như thế nào.?,hình thành chiến lược nhân lực. 2/ Định biên: là một trong những hoạt động quan trọng nhất của nhà quản lý, bao gồm các hoạt động tuyển mộ, lựa chọn, làm hòa nhập và lưu chuyển nhân lực trong tổ chức.
- Tuyển mộ: là quá trình thu hút những người có khả năng từ nhiều nguồn khác nhau đến nộp đơn và tìm việc làm.Thu hút nhân lực là đảm bảo số lượng nhân viên mới với đầy đủ các phẩm chất và kỹ năng sơ tuyển và yêu cầu phù hợp với công việc của doanh nghiệp xây dựng. Để tuyển đúng người, đúng việc, doanh nghiệp cần căn cứ vào định hướng phát triển của đơn vị, định hướng phát triển về nhân lực, chiến lược sản xuất kinh doanh cũng như thực trạng hoạt dộng nhân lực tại doanh nghiệp mình , từ đó đề xuất nhưng phương pháp thích hợp. Những hoạt động thường thấy ở yếu tố này như: Hoạch định nhân lực, phân tích nhân lực, phân tích công việc, thu thập, xử lý thông tin về nhân lực… 9 - Tuyển chọn: Nếu tuyển mộ là tập trung các ứng viên lại thì tuyển chọn là quyết định xem ai trong số các ứng viên là người đầy đủ tiêu chuẩn để làm việc cho tổ chức.Quá trình tuyển chọn, tổ chức có thể sử dụng một số hình thức như: dùng thư giới thiệu, đơn xin việc, kiểm tra lý lịch, hình thức trắc nghiệm, phỏng vấn, câu hỏi tình huống, đánh giá theo phương pháp phỏng vấn. - Hòa nhập: đây là quá trình được thiết kế để giúp đỡ những nhân viên mới thích nghi và phù hợp với bộ phận hay tổ chức mà họ sẽ làm việc.
- Lưu chuyển nhân lực: là nghệ thuật di chuyển lao động từ công việc đã được giao nhiệm vị trước đó.Việc lưu chuyển nhân lực liên quan đến lưu chuyển nội bộ và đề bạt, và các hoạt động khác như sa thải lao động, nghỉ hưu, chết, kết thúc hợp đồng hay xin nghỉ việc.