Chương 1: Cơ sở lý luận về tuyển dụng và đào tạo lao động trực tiếp tại các doanh nghiệp Lâm nghiệp. Chương 2: Thực trạng tuyển dụng và đào tạo lao động trực tiếp tại Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tuyển dụng và đào tạo lao động trực tiếp tại Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUYỂN DỤNG VÀ ĐÀO TẠO LAO ĐỘNG TRỰC TIẾP TẠI CÁC DOANH NGHIỆP LÂM NGHIỆP 1.
Lao động trực tiếp tại các “doanh nghiệp lâm nghiệp”. Khái niệm lao động trực tiếp trong doanh nghiệp lâm nghiệp. Lao động trực tiếp của một doanh nghiệp chính là tập hợp những người lao động trực tiếp tham gia các dây chuyền sản xuất trực tiếp làm ra sản phẩm của doanh nghiệp. LĐTT hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo ca, tổ, nhóm để làm ra sản phẩm theo mục tiêu SXKD của doanh nghiệp.
Lao động trực tiếp là những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm, hay nói cách khác sản phẩm do chính bản chất của con người, do chính giá trị sức lao động của con người tạo ra khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp. Để nâng cao chất lượng lao động trực tiếp trong thì doanh nghiệp cần quan tâm đến công tác tuyển dụng, đào tạo. Đây là một yếu tố cần thiết và vô cùng quan trọng đối với mọi doanh nghiệp. Lao động trực tiếp là nguồn lực về con người bao gồm thể lực và trí lực: Thể lực là sức khoẻ, khả năng làm việc bằng cơ bắp, chân tay; Trí lực thể hiện ở sự suy nghĩ, hiểu biết của con người đối với từng công việc cụ thể, về công nghệ, tay nghề.
Trí lực và thể lực trong bản thân người lao động trực tiếp phản ánh khả năng lao động, điều kiện cần thiết của quá trình lao động sản xuất. Người lao động trực tiếp là tải sản quý của mỗi doanh nghiệp. Họ trực tiếp tiến hành các hoạt động sản xuất sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện công việc nhất định nhằm tạo ra giá trị cho DN, đóng góp công sức vào thực hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và giúp cho doanh nghiệp tạo dựng, phát triển thương hiệu trên thị trường. Phân loại lao động trực tiếp trong DNLN Với những mục đích và góc nhìn khác nhau thì người lao động trực tiếp được phân thành các loại khác nhau.
Theo thời gian lao động, có thể chia lao động trực tiếp thành 02 loại: - Lao động định biên: là lao động được công ty tuyển dụng và ký kết hợp đồng có thời hạn từ 01 năm trở lên hoặc Hợp đồng lao động không xác đinh thời hạn. Loại lao động này thường là: Công nhân trực tiếp lao động trong các dây chuyền sản xuất, lao động bảo vệ và phát triển rừng. - Lao động ngắn hạn, thời vụ: là lao động do công ty tuyển dụng để sử dụng trong ngắn hạn có thời hạn hợp đồng từ 1 – 3 tháng hoặc hợp đồng khoán công việc cụ thể. Lao động này có thể thuê lại từ doanh nghiệp khác hoặc từ lao động tự do.
Theo tính chất công việc cụ thể, lao động trực tiếp được chia thành: lao động chính, lao động phụ trợ. Theo trình độ tay nghề của lao động trực tiếp được chia thành các loại sau: - Lao động có trình độ tay nghề cao: gồm những người được đào tạo chính qui từ các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp, có thời gian công tác lâu, có nhiều kinh nghiệm và có tư duy sáng tạo trong công việc, có khả năng đảm nhận các công việc đòi hỏi trình độ cao. - Lao động có trình độ tay nghề trung bình: gồm những người được đào tạo chính qui từ các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp, có thời gian công tác từ 03-10 năm, có kinh nghiệm và có tư duy sáng tạo trong công việc, có khả năng đảm nhận các công việc đòi hỏi trình độ trung bình. - Lao động có trình độ tay nghề thấp hoặc lao động chưa qua đào tạo: gồm lao động được đào tạo ngắn hạn chưa có kinh nghiệm hoặc chưa qua đào tạo tay nghề nhưng vẫn đảm nhận được các công việc thực tế không cần tay nghề cao.
Phân loại lao động trực tiếp trong doanh nghiệp có có vai trò quan trọng trong việc bố trí, sắp xếp lao lao động trong các bộ phận, xí nghiệp, dây chuyền sản xuất một các hợp lý, khoa học, nhằm phát huy mọi khả năng của từng lao động. 8 Việc sắp xếp bố trí hợp lý sẽ làm tưng khả năng phối hợp giữa các cá nhân trong quá trình lao động phát huy được điểm mạnh của từng cá nhân góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao thu nhập cho người lao động. Yêu cầu đối với lao động trực tiếp tại doanh nghiệp lâm nghiệp Yêu cầu về số lượng lao động trực tiếp Số lượng lao động trực tiếp trong DNLN là số lao động được doanh nghiệp tuyển dụng, tuyển chọn và ký kết hợp đồng lao động, lượng lao động này được bố trí định biên vào các bộ phận, tổ đội, ca kíp, dây chuyền sản xuất và được hưởng đầy đủ các chế độ theo qui đinh của Bộ luật lao động. Số lượng lao động trực tiếp cần thiết cho các DNLN thay đổi theo số lượng, quy mô mà DN đó quản lý.
Số lượng lao động trực tiếp cũng có thể thay đổi theo tính chất cấp bách của từng mùa vụ gieo trồng sản xuất lâm nghiệp trong năm, đối với hạn hán, cháy rừng, nạn buôn bán vận chuyển, khai thác gỗ trái phép cần số lượng lao động trực tiếp lớn, đối với các mùa mưa số lượng lao động trực tiếp có thể ít hơn. Đối với lĩnh vực chế biến lâm sản, số lượng lao động trực tiếp phụ thuộc vào đơn hàng, vào thời điểm và tâm lý người tiêu dùng ví dụ khi có đơn hàng, khi sát tết nguyên đán, ngày lễ lớn cần nhiều lao động trực tiếp, vào mùa giữa năm, tháng 7 âm lịch lao động trực tiếp cần ít hơn. Yêu cầu về chất lượng lao động trực tiếp Chất lượng nhân của DNLN được thể hiện thông qua các tiêu chí: + Thái độ làm việc của người lao động: Đó là tinh thần làm việc, thái độ làm việc, sự tận tâm khi thực hiện nhiệm vụ được phân công. Trong doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp lâm nghiệp nói riêng đều cần người lao động có tinh thần nhiệt tình, sáng tạo, tận tụy với công việc đồng thời phải nghiêm tực chấp hành nội qui lao động.
Điều này, người lao động được học tập, tu dưỡng trong quá trình đào ở các trường đào tạo, ở truyền thống gia đình và đúc rút kinh nghiệm trong quá trình công tác.Công việc quản lý, khai thác, bảo vệ công trình lâm nghiệp là công việc 9 nặng nhọc, tính chất phức tạp cao, đòi hỏi khắt khe về sự an toàn cũng như sự thận trọng. Chính vì vậy, kỷ luật lao động, sự tận tụy là yêu cầu rất quan ctrọng đối với lao động trực tiếp trong các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp; + Trình độ chuyên môn, tay nghề của người lao động: Đó là, trình độ chuyên môn, tay nghề của người lao động được đào tạo, đúc kết kinh nghiệm trong công việc và khả năng vận dụng kiến thức, tay nghề vào trong thực tiễn làm việc. Lao động trực tiếp làm việc trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng cần có kiến thức chuyên ngành về lĩnh vực lâm nghiệp, có trình độ đào tạo từ trung cấp chuyên ngành về lâm nghiệp trở lên, có sức khỏe tốt, có khả năng giao tiếp , có khả năng làm việc nhóm, hiểu được phong tục tập quán của địa phương, có kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực lâm nghiệp 03 năm trở lên … Lao động trực tiếp làm việc trong lĩnh vực chế biến lâm sản ( SXCN) có trình độ, kiến thức và kỹ năng chuyên môn về chế biến lâm sản, có trình độ đào tạo từ trung cấp chuyên ngành về chế biến trở lên, có sức khỏe tốt, có khả năng giao tiếp , có khả năng làm việc nhóm, hiểu được phong tục tập quán của địa phương, có khả năng vận hành máy móc chế biến lâm sản, ít nhất họ cũng phải được đào tạo cơ bản về ngành cũng như các kiến thức liên quan + Yêu cầu về sức khỏe thể chất của lao động trực tiếp ngành lâm nghiệp; + Chất lượng lao động trực tiếp của DNLN còn thể hiện ở cơ cấu giới tính, cơ cấu độ tuổi lao động, cơ cấu ngành lâm nghiệp theo chức năng, nhiệm vụ. Đối với các DNLN, khối lao động gián tiếp thì cơ cấu giới tính, cơ cấu độ tuổi.
hầu như không có gì khác biệt lớn so với các doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, lao động trực tiếp thì tỷ lệ lao động là nam chiếm đa số ( >90%) vì đặc thù lao động trong doanh nghiệp lâm nghiệp thường thực hiện những công việc nặng trong công tác tuần tra, bảo vệ và phát triển rừng; lao động trực tiếp trong khâu chế biến lâm sản. Độ tuổi của đội ngũ lao động này thường dao động từ 26 đến 45 tuổi để đảm bảo những yêu cầu về sức khỏe, kỹ năng. + Xu hướng hiện nay trong cơ cấu ngành lâm nghiệp nói chung, đang chuyển dịch từ khai thác, sử dụng rừng sang trồng, bảo vệ và phát triển rừng, công tác chế 10 biến lâm sản chủ yếu sử dụng gỗ nhập khẩu và chế biến lâm sản phụ.
Đồng thời xây dựng môi trường, bảo vệ cảnh quan, nguồn gen… của rừng bền vững với công nghệ cao, sử dựng, khai thác rừng có kế hoạch hợp lí, hội nhập thương mại hóa quốc tế cho lĩnh vực lâm sản nói riêng là những vấn đề đang đặt ra trong toàn dân. + Nhu cầu lao động cần được đào tạo chuyên môn hóa ngày càng cao phù hợp với chuyển dịch cơ cấu ngành. + Định hướng phát triển lâm nghiệp trong tương lai nên bắt đầu chuyển hướng sang quản lý bền vững tài nguyên rừng dựa trên cơ sở phát triển bền vững. Kiến thức đào tạo không được nặng về khai thác, sử dụng rừng như trước đây, phải chuyển dần sang quản lý bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên giảm nhẹ thiên tai và ứng phó biến đổi khí hậu.
Đây chính là định hướng chiến lược phát triển chung, không chỉ riêng gì đào tạo lâm nghiệp.