CHƯƠNG I. CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ CÁC NHÂN TỐ ĐIỀU HÀNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Điểm số quản trị công ty và hiệ quả hoạt động của công ty cổ phần Brown và Cayler (2004) trong bài nghiên cứư “ Điều hành công ty và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp” đã xây dựng thước đo quản trị doanh nghiệp, được gọi là Gov-Score, mà dữ liệu được cung cấp bởi ISS. Các thành phần của Gov-Score được chia ra thành 8 nhóm: Kiểm toán Ban điều hành Đặc chế Trình độ học vấn của ban điều hành Thù lao của hội đồng quản trị và ban điều hành Sở hữu cổ phần của ban điều hành Tiến trình thự thi Tình trạng của công ty Bằng nghiên cứu trên 2300 công ty, Brown và Cayler đã tìm mối liên hệ giữa Gov-Score với 6 thước đo hiệu quả của công ty được xếp vào 3 loại: ROE; giá trị (Tobin’Q) và chi trả cho cổ đông.
Nghiên cứu này chỉ ra rằng những công ty được quản trị tốt hơn tạo lợi nhuận tốt hơn, có giá trị tốt hơn và chi trả lợi tức cho cổ đông cao hơn. Bên cạnh đó, Brow và Cayler còn thừa nhận những doanh nghiệp có Hội đồng quản trị có nhiều thành viên độc lập thì ROE, biên lợi nhuận, tỷ lệ cổ tức và mua lại cổ phần cao hơn. Nghiên cứu cũng cho thấy thành viên hội đồng quản trị hạn chế có thể cải thiện hiệu quả của doanh nghiệp bởi vì việc gia tăng kiểm tra các quyền lợi của hội đồng quản trị có quy mô lớn thì khó hơn bởi thông tin và quyết định tệ hơn. Một báo cáo năm 2005 do ISS chỉ ra rằng những công ty có cơ cấu quản trị tốt thì có rủi ro thấp hơn, lợi nhuận tốt hơn và giá trị công ty cao hơn.
Hiệu quả hoạt động được đo lường qua các chỉ tiêu: tỷ suất lợi nhận trên vốn đầu tư (ROI), tỷ suất cổ tức hang TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 năm, tỷ suất lợi nhuận ròng và P/E. Những công ty quản trị tốt hơn những công ty quản trị kém nhất đến 13 trên 16 thước đo tài chính về hiệu quả hoạt động, ủng hộ cho quan điểm rằng điều hành công ty tốt hơn sẽ dẫn đến hiệu quả hoạt động tốt hơn. Một nghiên cứu CLSA-Credit Lyonnais Securities Asia nghiên cứu 945 công ty trong 25 quốc gia mới nổi và 18 ngành, cho thấy các công ty có chỉ số quản trị cao hoạt động tốt với tỷ suất lợi nhuận cao hơn. Với các nghiên cứu trên , ta thấy có mối tương quan dương giữa mức xếp hạng điều hành công ty và hiệu quả hoạt động.
Cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần Khi bàn về cấu trúc sở hữu, người ta phân loại thành cấu trúc tập trung hoặc phân tán. Trong công ty cổ phần có cấu trúc sở hữu tập trung, cổ đông thiểu số không thể tác động vào quyết định cao cấp, mặc dù có quyền biểu quyết. Trong công ty có cấu trúc sở hữu phân tán thì không cổ đông nào chi phối công ty được; vì vậy, cổ đông thiểu số thông qua phiếu bầu của mình có thể tham gia vào quá trình ra quyết định. Ngoài ra, khi nói đến vấn đề cấu trúc sở hữu, thì sở hữu nhà nước cũng được bàn luận và nghiên cứu nhiều.
Đây thực chất là sở hữu toàn dân, do nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Vấn đề được đặt ra ở đây là: Vấn đề người đại diện? Nếu người đại diện theo đuổi các mục tiêu riêng tư, như vậy sẽ mâu thuẫn với lợi ích của nhà nước. Vấn đề này sẽ được tác giả đề cập trong phần 1. Gillan & Starks (2003) khi nghiên cứu đến vấn đề cấu trúc sở hữu đã cho ra kết quả là các nhà đầu tư tổ chức nước ngoài đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo lập môi trường tích cực, thúc đẩy sự thay đổi thực hành quản trị công ty trên toàn thế giới.
Trong khi đó, các tổ chức trong nước có quan hệ kinh doanh với các công ty địa phương có thể phải bắt buộc trung thành với phong cách quản lý của nhà quản trị. Tác giả Mahmood Osman và Imam và Mahfujia Malik khi nghiên cứu “ Hiệu quả hoạt động và Quản trị công ty thông qua cấu trúc sở hữu: bằng chứng từ TTCK Bangladesh năm 2007” đo lường bởi tỷ suất sinh lợi từ đầu tư cổ phiếu và Tobin’Q. Cấu trúc sở hữu được chia thành tỷ lệ sở hữu nhà nước, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, tỷ lệ sở hữu công chúng, tỷ lệ sở hữu của các tổ chức và tỷ lệ sở hữu của các nhà tài trợ. Kết quả là tỷ lệ sở hữu nước ngoài có tương quan dương và đạt mức ý nghĩa thống kê với hiệu quả TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 hoạt động.
Những công ty với tỷ lệ sở hữu của các tổ chức cao có tỷ lệ chi trả cổ tức cao và những công ty có tính chất sở hữu tập trung chi trả cố tức thấp hơn. Quy mô và tính độc lập của ban hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động Cấu trúc và trách nhiệm của hội đồng quản trị khác nhau ở mỗi nước. Ở Đức thì HĐQT không nhất thiết phải là đại diện duy nhất cho quyền lôi của cổ đông mà còn cho cả những người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Còn ở Mỹ, đại diện của lien đoàn lao động cũng có thành viên trong HĐQT.
Ở Anh quy định rất rõ phải có ít nhất 3 thành viên bên ngoài nằm trong HĐQT (còn gọi là thành viên độc lập), chủ tịch HĐQT và CEO phải là 2 thành viên khác. Trong khi đó ở Nhật, chúng ta thường nghe đến những danh xưng Chủ tịch-Tổng giám đốc, hàm ý một người có thể nắm cả hai vai. Ở Việt Nam, hiện đang có tranh luận, liệu rằng nhóm cổ đông lớn trong nước và cổ đông nước ngoài nếu như kiêm luôn không phải chức danh chủ tịch HĐQT mà còn cả chức danh Tổng giám đốc có làm tăng hiệu quả hoạt động hay không? Nghiên cứu về vai trò của HĐQT của Weibach và các cộng sự 1988, cho thấy HĐQT được lựa chọn ngoài công ty có xu hướng thân thiện với cổ đông hơn những HĐQT bị chi phối bởi các cổ đông bên trong công ty. Và theo họ hội đồng quản trị bên ngoài thì có lẻ là tốt hơn vì họ thường được bổ nhiệm sau những hiệu suất kém hay hầu hết đều phải chứng tỏ giá trị của họ trong các tình huống khủng hoảng, mối tương quan giữa HĐQT bên ngoài và giá trị công ty thường bị che khuất.
Trong khi đó Hermalin và Weissbach (1991) đã nghiên cứu hiệu quả hoạt động của công ty với những loại hình quản trị khác nhau và thấy rằng không có sự khác biệt đáng kể hiệu quả hoạt động trong những công ty này. Các kết quả khác nhau đã cho thấy tính độc lập của HĐQT không có mối tương quan rõ rệt với kết quả hoạt động. Eisenberg và các cộng sự (1998) và Yermack (1996) nghiên cứu về quy mô của HĐQT cho ra kết quả gây ra tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động. Như vậy quy mô HĐQT và giá trị công ty có tương quan âm.
Vấn đề người đại diện và hiệu quả hoạt động Vấn đề ông chủ và người đại diện (Principal - Agent Problem ) hay còn gọi là vấn đề người ủy thác và người nhậm thác là một ví dụ điển hình của rủi ro đạo đức. Người quản lý ( hay còn gọi là người đại diện ) là người chỉ sở hữu một phần nhỏ trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 vốn cổ phần của một công ty, ngược lại các ông chủ lại là người sở hữu phần lớn vốn cổ phần. Do có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý đã gây nên một vấn đề là người quản lý có thể hành động theo lợi ích riêng của họ nhiều hơn so với lợi ích của người sở hữu. Việc giám sát thông tin một cách chặt chẽ từ phía người sở hữu có thể làm giảm thiểu rủi ro đạo đức gây ra từ việc thông tin phi đối xứng giữa người sở hữu và người quản lý.
Tuy nhiên, việc giám sát này có thể rất tốn kém, do dó nó chỉ giải quyết một phần nào đó bởi vì sự hiện diện của vấn đề người đi xe không trả tiền. Chẳng hạn, một cổ đông của công ty khi biết được người quản lý bị giám sát chặt chẽ bởi các cổ đông khác, ông ta sẽ dành ít thời gian và tiền bạc hơn để làm việc đó, cuối cùng sẽ dẫn đến việc giám sát sẽ trở nên thiếu hiệu quả vì không ai thực hiện việc đó cả. Lý thuyết về đại diện cho rằng, nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở để tin rằng người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức các cổ đông và công ty. Với vị trí của mình, người quản lý công ty được cho là luôn có xu hướng tư lợi và không đủ siêng năng, mẫn cán, và có thể tìm kiếm các lợi ích cá nhân cho mình hay người thứ ba của mình chứ không phải cho công ty.
Các đặc tính tự nhiên của quan hệ đại diện dẫn đến giả thiết rằng, các cổ đông cần thường xuyên giám sát hoạt động của người quản lý công ty nhằm đảm bảo lợi ích của mình. Học thuyết về đại diện nhấn mạnh rằng, các cổ đông cần phải sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công ty, bằng cách (i) thiết lập những cơ chế đãi ngộ (compensation mechanisms) thích hợp cho các nhà quản trị, và (ii) thiết lập cơ chế giám sát (supervisory mechanisms) hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty. Theo suy nghĩ thường tình, nếu như cổ đông nào nắm giữ trên 51% sở hữu công ty, thì họ sẽ dễ dàng thuê (sa thải) những giám đốc giỏi theo ý kiến của riêng mình và giám sát được hoạt động quản trị của các giám đốc nhất quán với mục tiêu của cổ đông lớn. Một số nghiên cứu ủng hộ cho quan điểm này, kang và Shivdasnani (1995) cho thấy có hiệu ứng dương giữa sở hữu tập trung và hiệu quả của công ty ở Nhật, còn Gorton và Schmid (2000) cho thấy có hiệu ứng dương tại Đức.