Chương 1: Mô ̣t số vấn đề lý luận về tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong Luật hình sự Việt Nam. Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tuổi chịu trách nhiệm hình sự và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật về tuổi chịu trách nhiệm hình sự. 5 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TUỔI CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.
Khái niệm tuổi chịu trách nhiêm ̣ hin ̀ h sƣ ̣ và năng l ực trách nhiêm ̣ hình sự 1. Khái niệm tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự Mă ̣c dù còn có nhiề u cách hiể u , cách định nghĩa khác nhau , song nhin ̀ chung đều cho rằng : Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước do việc người đó thực hiện tội phạm và là kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, hình phạt và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định. Chỉ người nào đạt độ tuổ i nhấ t đi ̣nh thì mới phải chi ̣u trách nhiê ̣m hình sự. Tuổi chịu TNHS có các đặc điểm sau đây: Thứ nhất, tuổi chịu TNHS do luật hình sự quy định.
Xét về tính hệ thống, các quy định của ngành luật này trong cùng một hệ thống có thể sử dụng để phân tích làm sáng tỏ nội dung các quy phạm pháp luật của ngành luật khác. Tuy nhiên, nhiều nội dung có tính đặc thù, chuyên biệt thì chúng ta cần phải xác định theo quy định của ngành luật đó. Vấn đề độ tuổi để xác định tư cách chủ thể là một nội dung có tính chuyên biệt, được xác định theo từng ngành luật. Mỗi ngành luật có cách xác định khác nhau về độ tuổi.
Chính vì vậy, về nguyên tắc, khi xác định tuổi chịu TNHS, chúng ta cần căn cứ vào những quy định của luật hình sự mà không viện dẫn các quy định của các ngành luật khác. Chỉ trong những trường hợp luật hình sự dẫn chiếu sang quy định của các ngành luật khác thì chúng ta mới sử dụng cách tính tuổi của ngành luật đó để xác định tuổi chịu TNHS. Thứ hai, tuổi chịu TNHS là tuổi tròn. Mỗi ngành luật đều có cách thức để xác định tuổi của chủ thể tham gia quan 6 z hệ pháp luật do ngành luật mình điều chỉnh.
Đối với chủ thể của tội phạm, luật hình sự Việt Nam xác định tuổi là theo tuổi tròn. Điều này thể hiện trong các quy định, cụ thể: Tại điều 12 Bộ luật hình sự 1999 quy định về tuổi chịu TNHS: “người từ đủ 16 tuổi.” và “người từ đủ 14 tuổi…”. Tuổi tròn ở đây là ngưỡng để tính tuổi tối thiểu của người phạm tội và tuổi tối đa của người bị hại trong trường hợp tuổi của người bị hại chi phối tới việc xác định TNHS của người phạm tội. Cách tính tuổi tròn được xác định bằng cách lấy ngày sinh nhật gần nhất của người đó để tính.
Trong một số trường hợp đặc biệt, khi luật hình sự dẫn chiếu sang ngành luật khác thì chúng ta áp dụng cách tính tuổi của ngành luật đó. Thứ ba, tuổi chịu TNHS tính từ thời điểm người đó sinh ra đến thời điểm người đó thực hiện hành vi phạm tội. Thời điểm đầu để xác định tuổi của người phạm tội là ngày người đó được sinh ra. Thời điểm sinh được xác định dựa vào các loại giấy tờ có giá trị pháp lý gắn liền với nhân thân của người đó như giấy chứng sinh, giấy khai sinh, chứng minh thư nhân dân, cá loại văn bằng, chứng chỉ.
Nhưng trên thực tế, không phải khi nào chúng ta cũng có các loại giấy tờ trên để xác định tuổi. Trong nhiều trường hợp, chúng ta không có cơ sở pháp lý vững chắc để xác định ngày sinh của người phạm tội. Trong những trường hợp này, chúng ta phải xác định ngày sinh của người phạm tội theo nguyên tắc có lợi cho người thực hiện hành vi phạm tội. Thời điểm sau để xác định độ tuổi đó là thời điểm hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện.
Có nghĩa là: Hành vi được thực hiện ngày nào thì ngày đó được sử dụng để tính tuổi của người thực hiện hành vi phạm tội. Đối với những trường hợp hành vi phạm tội là hành vi kéo dài hoặc hành vi có tính liên tục mà tuổi của người phạm tội có tính chất “giáp ranh” ảnh hướng để việc xác định trách nhiệm hình sự, ta cần xem xét cụ thể để tách hành vi đó ở các độ tuổi khác nhau để xem xét trách nhiệm hình sự được chính xác. Trên cơ sở phân tích về tuổi chịu TNHS như trên, có thể rút ra định nghĩa về tuổi chịu TNHS như sau: Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là độ tuổi được luật hình sự quy định nhằm xác định khi một người phát triển đến độ tuổi đó mới có thể phải 7 z chịu trách nhiệm hình sự, cũng như mức độ trách nhiệm hình sự phải chịu về hành vi phạm tội do mình gây ra. Khái niệm năng lực trách nhiê ̣m hình sự Hiện nay, trong khoa học Luật hình sự và thực tiễn áp dụng mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại độc lập của hai dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự (NLTNHS) và tuổi chịu TNHS.
Nghĩa là, khi phân tích lý luận về mặt chủ thể của tội phạm trong phần chung, chúng ta đều tách hai tiêu chuẩn của một cá nhân để trở thành chủ thể của tội phạm bao gồm: NLTNHS và tuổi chịu TNHS. Trong phần các tội phạm, khi phân tích bốn yếu tố cấu thành tội phạm (CTTP) của từng tội phạm cụ thể, chúng ta cũng luôn nêu cụm từ: "người có NLTNHS và đạt độ tuổi chịu TNHS". Điều này xuất phát từ thực tế các nhà lập pháp hình sự nước ta đã quy định hai nội dung này ở hai điều luật khác nhau, đó là tình trạng không có NLTNHS (Điều 13 Bộ luật Hình sự) và tuổi chịu TNHS (Điều 12 Bộ luật Hình sự). Do đó, theo nghĩa rộng thì NLTNHS phải bao gồm cả nội dung tuổi chịu TNHS.
Theo đó: “ Năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi một người, khả năng điều khiển được hành vi đó và khả năng gánh lấy những hậu quả pháp lý là trách nhiệm hình sự do hành vi mà chính họ gây ra. Năng lực trách nhiệm hình sự bao gồm khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi và tuổi chịu trách nhiệm hình sự”. Còn hiểu theo nghĩa hẹp thì “Năng lực TNHS phải đạt độ tuổi và năng lực của tự ý thức, được hình thành trong quá trình phát triển của cá thể cả về mặt tự nhiên và xã hội”. Một người chưa đủ tuổi chịu TNHS thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội luôn được coi là không có lỗi [6, tr.
Tương tự như trường hợp khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà mắc bệnh dẫn đến mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Một khi đã có hành vi phạm tội có nghĩa là bốn yếu tố cấu thành tội phạm đã thỏa mãn và TNHS phải được đặt ra vì không thể có tội phạm nào trong Bộ luật hình sự mà không có kèm theo hình phạt (đặc trưng của TNHS). Việc họ được miễn TNHS trong một số trường hợp không thể được coi là "chưa đến 8 z mức bị truy cứu TNHS” hoặc hành vi của họ không phải là tội phạm cũng không thể được coi là "chưa đến mức bị truy cứu TNHS" mà phải coi là họ không có TNHS. Do đó, có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng người chưa đủ tuổi chịu TNHS thì hành vi của họ không thể bị coi là tội phạm, nghĩa là họ không bao giờ bị coi là "đã phạm tội" và họ không có TNHS.
Ý nghĩa của tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự Tuổi chịu TNHS là một vấn đề không thể thiếu trong pháp luật hình sự của mỗi quốc gia, thể hiện quan điểm của Nhà nước về cách thức xử lý người phạm tội, vừa đảm bảo trật tự an toàn cho xã hội nhưng phải đạt được mục đích bảo vệ quyền con người, đặc biệt là quyền của người chưa thành niên, kể cả khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Tuổi chịu TNHS mặc dù không được ghi nhận chính thức dưới góc độ lập pháp là một đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản của tội phạm trong Điều 8 BLHS. Tuy nhiên, dấu hiệu này lại có ý nghĩa rất quan trọng trong việc làm sáng tỏ TNHS của người phạm tội. Đây cũng như là dấu hiệu không thể thiếu trong yếu tố chủ thể của tội phạm bên cạnh dấu hiệu “năng lực TNHS”.
Ngoài ra, độ tuổi chịu TNHS cũng là một vấn đề quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với quá trình giải quyết vụ án hình sự. Việc cân nhắc tuổi chịu TNHS cùng với các căn cứ khác để quyết định hình phạt là một trong những biểu hiện nhân đạo, công bằng và cá thể hóa hình phạt có ý nghĩa giáo dục, cải tạo và phòng ngừa rất lớn. Cơ sở của việc quy định tuổi chịu trách nhiêm ̣ hin ̀ h sƣ ̣ và phân lo ại tuổi chịu trách nhiêm ̣ hin ̀ h sƣ ̣ 1. Cơ sở của việc quy định tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự 1.
Cơ sở lý luận Bất kỳ một ngành luật nào cũng xuất phát từ mục đích điều chỉnh là kết quả trong tương lai mà nhà làm luật mong muốn sẽ đạt được bằng sự điều chỉnh của ngành luật ấy. Mục đích của luật hình sự chính là thiết lập lại trật tự của các quan hệ xã hội đã tồn tại trước khi có việc thực hiện tội phạm mà các quan hệ xã hội đó bị sự xâm hại của tội phạm gây nên (hoặc đe dọa thực tế gây nên) thiệt hại. Đồng thời, trong quá trình thiết lập lại trật tự ấy tất cả các công dân và những người có chức vụ 9 z cũng như các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội phải có nghĩa vụ tuân thủ nghiêm chỉnh các đòi hỏi của luật hình sự [6, tr. Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội, trật tự xã hội, Nhà nước dùng nhiều biện pháp khác nhau vừa có tính thuyết phục vừa có tính cưỡng chế để đấu tranh, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật.