Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA DANH BA VÌ VÀ TỤC THỜ NƯỚC CỦA NGƯỜI VIỆT 1. Khái quát về huyện Ba Vì 1. Địa giới hành chính và điều kiện tự nhiên Huyện Ba Vì được thành lập ngày 26/7/1968 trên cơ sở hợp nhất các huyện cũ Bất Bạt, Tùng Thiện và Quảng Oai của tỉnh Hà Tây. Thời kỳ 1975- 1978 thuộc tỉnh Hà Sơn Bình.
Từ năm 1978 đến năm 1991 thuộc thành phố Hà Nội. Từ năm 1991 đến năm 2008 thuộc Hà Tây. Từ 1 tháng 8 năm 2008, Ba Vì lại trở về là một huyện của Hà Nội. Trước khi sáp nhập vào Hà Nội, toàn huyện Ba Vì có 1 thị trấn và 31 xã.
Ngày 1 tháng 8 năm 2008, cũng như các huyện khác của tỉnh Hà Tây, huyện Ba Vì sáp nhập vào Hà Nội. Tuy nhiên trước đó, ngày 10 tháng 7 năm 2008, toàn bộ diện tích tự nhiên là 454,08 ha và dân số 2.701 người của xã Tân Đức, thuộc huyện Ba Vì được sáp nhập vào thành phố Việt Trì, Phú Thọ, theo Nghị quyết của kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII về điều chỉnh địa giới hành chính giữa tỉnh Hà Tây và tỉnh Phú Thọ. Hiện tại, huyện Ba Vì có tổng diện tích khoảng 428 km2 theo tổ chức hành chính gồm có 1 thị trấn là Tây Đằng (huyện lỵ) và 30 xã. Huyện Ba Vì là một huyện bán sơn địa, diện tích tự nhiên là 428 km², là huyện có diện tích lớn nhất Hà Nội.
Huyện có hai hồ khá lớn là hồ Suối Hai, và hồ Đồng Mô. Các hồ này đều là hồ nhân tạo và nằm ở đầu nguồn sông Tích, chảy sang thị xã Sơn Tây, và một số huyện phía Tây Hà Nội, rồi đổ nước vào sông Đáy. Ở ranh giới của huyện với tỉnh Phú Thọ có hai ngã ba sông là: ngã ba Trung Hà giữa sông Đà và sông Hồng (tại xã Phong Vân) và ngã ba Bạch Hạc giữa sông Hồng và sông Lô (tại các xã Tản Hồng và Phú Cường, đối diện với thành phố Việt Trì). 17 Địa hình của huyện thấp dần từ phía Tây Nam sang phía Đông Bắc, chia thành 3 tiểu vùng địa hình khác nhau: vùng núi, vùng đồi, và vùng đồng bằng ven sông Hồng.
Vùng núi tập trung chủ yếu ở khu vực vườn quốc gia Ba Vì. Đây là nơi có nền địa hình cao nhất địa bàn huyện với 3 đỉnh đều đó độ cao trên 1000m. Đây là nơi được thiên nhiên ưu đãi ban tặng cả bức tranh sơn thuỷ hữu tình, với hệ sinh thái phong phú, thảm thực vật đa dạng. Nơi đây có tiềm năng rất lớn để khai thác thế mạnh vào hoạt động du lịch nghỉ dưỡng.
Theo số liệu năm 2008, diện tích rừng toàn huyện có 10.724,9 ha, trong đó rừng sản xuất 4.400,4 ha, rừng phòng hộ là 78,4 ha và 6.246 ha rừng đặc dụng. Diện tích rừng tự nhiên tập trung chủ yếu ở vùng núi Ba Vì từ độ cao 400 m trở lên. Về khí hậu, Ba Vì nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Các yếu tố khí tượng trung bình nhiều năm ở trạm khí tượng Ba Vì cho thấy: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 với nhiệt độ trung bình 23°C, tháng 6 và tháng 7 có nhiệt độ trung bình cao nhất là 28,6°C.
Tổng lượng mưa là 1832,2 mm (chiếm 90,87% lượng mưa cả năm). Lượng mưa các tháng đều vượt trên 100 mm với 104 ngày mưa và tháng mưa lớn nhất là tháng 8 (339,6 mm). Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 3 với nhiệt độ xấp xỉ 20°C , tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất 15,8°C; lượng mưa các tháng biến động từ 15đến 64,4 mm và tháng mưa ít nhất là tháng 12 chỉ đạt 15 mm. Đất đai huyện Ba Vì được chia làm 2 nhóm, nhóm vùng đồng bằng và nhóm đất vùng đồi núi.
Nhóm đất vùng đồng bằng có 12.892 ha bằng 41,1% diện tích đất đai toàn huyện. Nhóm đất vùng đồi núi: 18.478 ha bằng 58,9% đất đai của huyện. 18 Với điều kiện tự nhiên khá đặc thù Ba Vì là nơi có nhiều thắng cảnh thiên nhiên độc đáo được khách du lịch gần xa ưa thích như: Ao Vua, Khoang Xanh - Suối Tiên, hồ Tiên Sa, Thiên Sơn - Suối Ngà, khu du lịch Tản Đà, Thác Đa, hồ Suối Hai, hồ Cẩm Quỳ, rừng nguyên sinh Bằng Tạ - Đầm Long, đồi cò Ngọc Nhị. Nơi có nhiều trang trại đồng quê, nhiều sản phẩm nông nghiệp phong phú.
Ngoài ra còn có nguồn nước khoáng nóng thiên nhiên tại Thuần Mỹ rất thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng. Đặc điểm dân cư Huyện Ba Vì với dân số hơn 261 nghìn người gồm 3 dân tộc cư trú chủ yếu là Kinh, Mường, Dao. Trong đó người Mường là 2,3 vạn người, người Dao là hơn 2 nghìn người. Trong đó người dân tộc sinh sống chủ yếu tại 7 xã khu vực miền núi của huyện như Minh Quang, Tản Lĩnh, Ba Vì, Ba Trại, Vân Hòa, Yên Bài và Khánh Thượng.
Người dân tộc chiếm 40% dân số của 7 xã miền núi. Đặc biệt có xã Ba Vì người Dao chiếm gần 100% dân số xã. Chính vì vậy huyện Ba Vì theo chương trình 134, 135 của chính phủ đã thực hiện nhiều chính sách để phát triển, giữ gìn những bản sắc đồng thời phát triển kinh tế đồng bào các dân tộc thiểu số tại địa phương. Tuy nhiên cuộc sống của đồng bào người dân tộc Mường, Dao ở huyện Ba Vì còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao hơn so với mức trung bình của huyện nhiều, nhiều xã có tỷ lệ hộ nghèo hơn 50% như xã Ba Vì.
Đời sống kinh tế xã hội Theo báo cáo tổng kết kinh tế xã hội mới nhất kết thúc năm 2012: Tốc độ phát triển kinh tế của huyện trong năm 2012 đạt 13,9%, tổng giá trị sản xuất đạt gần 14 nghìn tỷ đồng, tăng 8% so với cùng kỳ, thu nhập bình quân đầu người 24,7 triệu đồng. 19 Về cơ bản huyện Ba Vì vẫn chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp với tỉ trọng chiếm tỉ lệ cao, tỉ lệ lao động làm nông chiếm tới 83% lao động toàn huyện. Các ngành chăn nuôi, trồng trọt tập trung vào hướng đi mới gần đây là trồng chè xuất khẩu và nuôi gia súc lấy thịt, sữa với số lượng lớn. Ngành du lịch cũng là định hướng trọng điểm phát triển mới trong vài năm trở lại đây song cũng đạt được bước đột phá đáng kể khi tăng tỉ trọng ngành dịch vụ, du lịch lên 43% với tỉ suất tăng bình quân năm về doanh thu lên tới 33,8%.
Ngành nông nghiệp sản lượng lúa cả năm đạt hơn 59 tạ/ ha, gieo sạ cả hai vụ đạt gần 4.900 ha, đàn bò sữa đạt 6.043 con, tăng 47% so với cùng kỳ, sản lượng thịt xuất chuồng tăng. Tỷ lệ hộ nghèo giảm 3,2%, an sinh xã hội được đảm bảo, làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. An ninh quốc phòng được giữ vững, cải cách hành chính được đẩy mạnh. Truyền thống lịch sử và văn hóa Ba Vì là vùng đất địa linh, nhân kiệt, một vùng đất tối cổ, có truyền thống văn hoá lâu đời, độc đáo, đặc trưng bởi 3 dân tộc Kinh - Mường - Dao với những phong tục, tập quán, nét văn hoá riêng biệt.
Ba Vì có một nền văn hoá dân gian vật thể và phi vật thể độc đáo. Huyền thoại Sơn Tinh - Thủy Tinh, bản anh hùng ca hùng tráng nhất về sức mạnh Việt Nam trong thời kỳ dựng nước. Những nơi thờ phụng Ngài không những chỉ lâu đời mà còn rộng khắp các nơi trong huyện Ba Vì và phủ rộng ra cả vùng Sơn Tây, Phú Thọ… Đáng chú ý nhất đó chính là cụm di tích Đền Hạ - Đền Trung - Đền Thượng thuộc quần thể di tích Tản Viên Sơn đã được công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. 20 Ba Vì vốn là một vùng đất cổ có lịch sử lâu đời.
Nơi đây vốn là phát tích của một khu vực văn hóa cổ đã có lịch sử hàng ngàn năm với truyền thống văn hóa, nghệ thuật độc đáo. Nơi đây là vùng tiếp nối cuối cùng của trung tâm văn hóa xứ Đoài xưa với vùng đất tổ Phú Thọ. Vùng đất này xưa là quê hương vùng đất có nhiều sáng tạo văn hóa, nghệ thuật tiêu biểu là hệ thống hàng trăm tích truyện cổ về Tản Viên Sơn Thánh được ghi chép trong các thần tích, thần phả hay lưu truyền trong các tác phẩm dân gian. Ngoài ra xung quanh vùng núi Tản còn lưu truyền nhiều truyện về các anh hùng, các vị nhân thần gần gũi như: Từ Đạo Hạnh, Quận Cồ, Trạng Bùng, Phùng Hưng.
Những sáng tạo văn hóa dân gian này là những giá trị văn hóa tinh thần đặc sắc không chỉ làm giàu thêm đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Ba Vì mà còn là nguồn tư liệu quí giá góp phần vào bức tranh chung của đời sống văn hóa cả nước. Ba Vì có hơn 60 di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng, được phân bố đều khắp ở cả 3 vùng trong huyện. Những di tích lịch sử này phần lớn có kiến trúc độc đáo gắn liền với tên tuổi các vị anh hùng của dân tộc, danh nhân văn hoá như: Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đỉnh núi Ba Vì, khu di tích K9. Trong hệ thống di tích ở khu vực Ba Vì nổi bật nhất phải kể đến kiến trúc đình làng.
Những ngôi đình làng tại Ba Vì hầu như giữ lại được rất nguyên vẹn giá trị kiến trúc cổ đại diện cho thời đại. Đây là khu vực có rất nhiều đình làng cổ như: đình Phú Hữu, đình Phú Xuyên, đình Tây Đằng, đình Chu Quyến. Trong đó có những di tích có tầm cỡ quốc gia như: đình Tây Đằng, đình Chu Quyến. Ngoài ra tại đây có đình Thụy Phiêu được các nhà khoa học đánh giá là một trong những ngôi đình cổ nhất Việt Nam có niên đại năm 1531- từ thời Nhà Mạc.
Đình làng trong văn hóa đời sống tinh thần ở làng quê Bắc Bộ có một vị trí đặc biệt quan trọng đó là nơi tổ chức các sinh hoạt cộng đồng cũng là nơi con người thể hiện tâm tư tình cảm ước mơ 21 nguyện vọng gửi gắm vào Thành Hoàng của làng. Những ngôi đình làng ở Ba Vì đa phần thờ Tản Viên, chỉ một số ít khác thờ Hai Bà Trưng hoặc một số vị thần sông nước (ven sông Đà).