phần mở đầu và kết luận cùng với tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Tục ngữ ngƣời Việt với việc phản ánh tri thức dân gian về thế giới tự nhiên. Tục ngữ ngƣời Việt với việc phản ánh tri thức dân gian về các mối quan hệ xã hội. So sánh biện pháp nghệ thuật đƣợc thể hiện qua hai bộ phận của tục ngữ phản ánh tri thức về giới tự nhiên và các mối quan hệ xã hội.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. TỤC NGỮ NGƢỜI VIỆT VỚI VIỆC PHẢN ÁNH TRI THỨC DÂN GIAN VỀ THẾ GIỚI TỰ NHIÊN Bằng những câu nói ngắn gọn, súc tích tục ngữ đã “Diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm xã hội, lịch sử của nhân dân lao động” (Gorki). Những kinh nghiệm ấy đƣợc rút ra trong lịch sử đấu tranh tự nhiên và đấu tranh xã hội, đƣợc thể nghiệm nhiều lần trong nhận thức, đã trở nên thành những chân lý có tính chất phổ biến và đƣợc toàn nhân dân lao động công nhận và sử dụng. Đó là những kinh nghiệm lâu đời và có tính chất tập thể đƣợc rút ra trong quá trình quan sát các hiện tƣợng tự nhiên, quá trình dùng sức ngƣời biến cải thiên nhiên, hiện tƣợng tự nhiên, quá trình xây dựng kinh tế sản xuất.
Dự đoán thời tiết Tục ngữ nói về hiện tƣợng thời tiết thể hiện óc nhận xét tinh tế của nhân dân Việt Nam. Từ đó có một cái nhìn đầy đủ về thế giới tự nhiên và tìm cách ứng phó kịp thời, cải tạo và chinh phục thiên nhiên 1. Dự đoán thời tiết qua việc chiêm nghiệm những triệu chứng báo trước của thiên nhiên Đã từ lâu thiên nhiên là đối tƣợng không thể tách rời với cuộc sống lao động và sinh hoạt của con ngƣời. Việc sản xuất nông nghiệp luôn gắn chặt với từng sự thay đổi của thiên nhiên.
Vì vậy, việc khám phá và tìm hiểu một cách cụ thể, chính xác tự nhiên để từ đó con ngƣời có những cách ứng xử, biến đổi và cải tạo thiên nhiên nhằm phát triển cuộc sống của mình ở mức cao hơn. Ngƣời Việt từ đó có thể cùng chung sống với thiên nhiên mà không hề bị lệ thuộc vào nó, thông qua những công việc hàng ngày con ngƣời đã quan sát, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đúc kết cho mình và những thế hệ đời sau những kinh nghiệm và bài học vô cùng quý báu để con ngƣời có thể ứng dụng một cách linh hoạt và sáng tạo trong cuộc sống của mình ở từng thời kỳ và thời điểm khác nhau. Thời tiết luôn là một trong những nhân tố tác động trực tiếp đến năng suất và sản lƣợng cây trồng và vật nuôi. Nếu không nắm bắt đƣợc những quy luật của thời tiết thì dù ngƣời lao động có bỏ ra công sức bao nhiêu cũng không thể thu về lợi ích cho mình.
Và vì thế, từ buổi bình minh của loài ngƣời, ngƣời Việt đã đúc kết ra những kinh nghiệm dự báo thời tiết cho mình dựa trên những yếu tố nhƣ chiêm nghiệm bằng thời gian, những triệu chứng báo trƣớc của thiên nhiên, qua việc quan sát động thực vật để từ đó ứng dụng và ứng phó với tự thay đổi của thiên nhiên để canh tác nông nghiệp, phát triển sản xuất. Trƣớc hết, những câu nói ấy ban đầu là câu nói của một cá nhân trong cộng đồng. Rồi từ đó, nó đƣợc đúc kết kiếm chứng rồi chuyển từ ngƣời này sang ngƣời khác, nó đã trở thành câu nói của cả cộng đồng ngƣời, là tri thức không thể thiếu trong đời sống lao động của con ngƣời Việt. Dự đoán thời tiết qua thời gian trong một năm Thời gian nông lịch của ngƣời Việt từ ngàn xƣa cho đến nay đƣợc chia thành mƣời hai tháng, từ tháng một đến tháng mƣời hai hay còn đƣợc chia thành bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.
Căn cứ vào thời gian này mà ngƣời dân Việt đã xem xét chiêm nghiệm thời tiết. Theo đó, các hiện tƣợng của thiên nhiên nhƣ mƣa, nắng, bão, gió đều đƣợc đề cập một cách tƣơng đối đầy đủ. Ngƣời dân Việt đã đúc kết đƣợc rằng: “Qua giêng hết năm, qua rằm hết tháng”. Hết tháng giêng (tháng 1) thì thời gian của một năm trôi qua rất nhanh, qua rằm (qua ngày 15 hàng tháng) thì thời gian của một tháng cũng nhanh chóng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trôi qua.
Kinh nghiệm này dùng để chỉ thời gian trong năm và trong tháng, theo đó quy định các hiện tƣợng thời tiết trong năm và trong ngày. “Đêm tháng năm chƣa nằm đã sáng, ngày tháng mƣời chƣa cƣời đã tối”. Tháng năm là tháng mùa hè, hiện tƣợng ngày lớn hơn đêm và ngƣợc lại ở tháng mƣời, tháng mùa đông. Hiện tƣợng này là hiện tƣợng thƣờng thấy ở khu vực bắc bán cầu.
Ngƣời dân Việt từ xa xƣa đã quan sát và nhận thấy rõ điều này. Kèm theo hiện tƣợng ngày đêm, họ còn có nhận xét tinh tế trƣớc sự biến đổi của thời tiết. Không những có sự khác biệt giữa mùa này, mùa kia mà còn có sự thay đổi rõ nét trong một mùa. “Tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng Bân”.
Ba tháng trong mùa xuân thời tiết rét nhƣng cái rét ở mỗi tháng cũng có sự khác nhau. Trong ba tháng ấy, cái rét tháng ba đƣợc ngƣời dân chú ý và đề cập nhiều hơn cả, đó là cái rét gắn liền với truyền thuyết của ngƣời Việt, là cái rét cuối cùng trong một năm nhƣng cũng là cái rét ghê gớm nhất. “Tháng ba bà già chết cóng (chết rét).” “Tháng ba chó già lè lƣỡi.” Nói về sự khác biệt giữa thời tiết trong một năm ngƣời dân đã đƣa ra những bài học kinh nghiệm đúc rút từ muôn đời mà cho đến nay điều đó vẫn hoàn toàn đúng và có giá trị. Bốn mùa trong năm ứng với những hiện tƣợng thời tiết khác nhau.
“Đầu năm sƣơng muối, cuối năm gió bấc (nồm, đông).” Hay: “Mùa đông mƣa dầm gió bắc, mùa hè mƣa to gió lớn, mùa thu sƣơng sa nắng gắt.” Mùa đông gắn liền với hiện tƣợng giá rét, mùa hè oi nóng nắng và thƣờng có mƣa nhiều. “Mùa đông chết se, mùa hè chết lụt.” LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiện tƣợng thời tiết mƣa cũng thƣờng xuất hiện và khác nhau ở mỗi mùa. “Tháng ba mƣa đám, tháng tám mƣa cơn.” Các hiện tƣợng thiên nhiên còn thay đổi theo thời gian trong một ngày. “Sáng ƣớt áo, trƣa ráo thóc.” Hay: “Sáng mƣa, trƣa tạnh.” Các hiện tƣợng thời tiết nhƣ thế thƣờng là kiểu hiện tƣờng thời tiết thƣờng thấy ở khu vực miền bắc nƣớc ta đặc biệt là ở khu vực đồng bằng sông Hồng và sông Thái Bình.
Hiện tƣợng mƣa là kiểu thời tiết đƣợc nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong tục ngữ và gần nhƣ mỗi tháng, mỗi mùa, kiểu hiện tƣợng thời tiết này lại có sự biến đổi dễ nhận thấy. “Mùa đông mƣa dầm gió bắc, mùa hè mƣa to gió lớn, mùa thu sƣơng sa nắng gắt.” Dựa vào các tháng: “Tháng ba mƣa đám, tháng tám mƣa cơn” “Tháng chín mƣa rƣơi, tháng mƣời mƣa cũ” “Tháng bảy nƣớc nhảy lên bờ” Hiện tƣợng mƣa gió còn đƣợc dân gian dựa vào thời gian trong một ngày. “Mƣa chẳng qua ngọ, gió chẳng qua mùi.” Với những chiêm nghiệm của mình từ cuộc sống hàng ngày ngƣời dân đã đúc kết ra đƣợc kiểu thời tiết mƣa không kéo dài qua giờ ngọ và hiện tƣợng gió không kéo dài qua giờ mùi. Những chiêm nghiệm nhận biết từ cuộc sống ấy giúp cho ngƣời dân sắp xếp công việc của mình trong một ngày, một LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tháng và trong cả một năm.
Điều đó có lợi cho việc sản xuất, nuôi trồng của ngƣời dân từ xa xƣa cho tới nay. Ngoài kiểu thời tiết mƣa gió nhân dân ta còn đề cập đến hiện tƣợng nƣớc triều dâng căn cứ theo thời gian trong năm. Tục ngữ khẳng định: “Tháng chín đôi mƣơi, tháng mƣời mồng năm.” Hiện tƣợng bão lụt: “Ông tha nhƣng bà chẳng tha, hãy còn cái lụt mồng ba tháng mƣời.” Hàng năm cứ đến hai mƣơi tháng chín và mồng năm tháng mƣời là hai ngày con nƣớc dâng. Vì chỉ ra đƣợc đặc điểm này nên ngƣời dân đã đƣa ra đƣợc các phƣơng án phòng chống thiên tai xảy ra trong năm.
Ngoài ra, ông cha ta còn dự đoán các hiện tƣợng thời tiết dựa vào các triệu chứng báo trƣớc của thiên nhiên. Điều này, cho thấy óc nhận xét tinh tế của nhân dân ta. Họ không chỉ dừng lại ở việc trông trời trông đất, khả năng quan sát mà còn trông mây trông mƣa để có thể phòng chống và tránh đƣợc những ảnh hƣởng nặng nề của thiên tai. Tục ngữ phản ánh tất cả những kiểu thời tiết, hiện tƣợng của thiên nhiên nhƣng xét trong tổng số những câu tục ngữ nói về các hiện tƣợng tự nhiên thời tiết trong Tục ngữ Việt Nam, số câu tục ngữ nói về mƣa và nắng là nhiều nhất.
Bởi lẽ mƣa nắng quyết định việc đƣợc mất trong sản xuất nông nghiệp. ngƣời dân chú trọng hai kiểu thời tiết này dƣới nhiều góc độ và quan sát chúng, dự báo dựa vào những triệu chứng báo trƣớc của thiên nhiên. Trƣớc tiên đó là kiểu thời tiết mƣa. Hiện tƣợng này đƣợc ngƣời bình dân đề cập bởi nó là yếu tố quyết định đến đƣợc mùa hay mất mùa của sản xuất.
Có mƣa mới có nƣớc cày bừa, cấy hái, chăm bón. Nhƣng mƣa quá nhiều sẽ dẫn tới lũ lụt, sản xuất mất trắng mà mƣa quá ít sẽ dẫn tới hạn hán, ruộng đồng khô nứt không canh tác đƣợc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những hiện tƣợng báo hiệu trời mƣa đƣợc quan sát qua các kiểu hiện tƣợng báo trƣớc nhƣ: mống, ráng, sấm, chớp, thâm, gió…. Hiện tƣợng “mống” đƣợc nhân dân quan sát với nhiều trạng thái và vị trí.
Kinh nghiệm cho thấy: hễ khi nào có mống thì nhất định sẽ có mƣa thậm chí có lụt. “Mống cao gió táp, mống rạp mƣa dầm.” “Mống cao gió táp, mống áp mƣa rào.” Khi trời có mống vàng và trắng thì kiểu thời tiết khác nhau. Mống trắng thì có mƣa còn mống vàng thì không thể. “Mống vàng trời nắng, mống trắng trời mƣa”.
Ngay cả việc mống xuất hiện ở vị trí nào cũng là đặc điểm để báo trƣớc cơn mƣa và sự nặng nhẹ của nó “Mống đông vồng tây, chẳng mƣa dây cũng bão giật.” Khẳng định khả năng quan sát và óc nhận xét tinh tế của ngƣời bình dân còn cho ta biết đƣợc khi nào có lũ lụt còn khi nào có mƣa bình thƣờng dựa vào việc quan sát mống. “Mống dài thời lụt, mống cụt trời mƣa.