Tài liệu Y tế: Tuân thủ điều trị của người tăng huyết áp theo dõi tại khoa

Chuyên khảo y tế phân tích Tuân thủ điều trị của người tăng huyết áp theo dõi tại khoa khám bệnh bệnh viện đại học y dược đại, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Trường đại học

Trường Đại học Thăng Long

Chuyên ngành

Điều dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

128
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của tuân thủ điều trị tăng huyết áp

Tuân thủ điều trị là quá trình người bệnh tăng huyết áp thực hiện các khuyến cáo về sử dụng thuốc, chế độ ăn uống, luyện tập thể dục và thay đổi lối sống theo đúng hướng dẫn của bác sĩ. Đây là yếu tố quan trọng nhất trong việc kiểm soát huyết áp và phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm. Nghiên cứu từ Bệnh viện Đại học Y Dược Hà Nội cho thấy, tuân thủ điều trị tốt giúp giảm nguy cơ tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim và các bệnh mạn tính khác. Tuy nhiên, tỷ lệ tuân thủ điều trị trong cộng đồng vẫn còn thấp, chỉ đạt khoảng 50% ở các nước phát triển. Việc hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp sẽ giúp nhân viên y tế can thiệp hiệu quả, nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

1.1. Định nghĩa tuân thủ điều trị

Tuân thủ điều trị tăng huyết áp bao gồm việc dùng thuốc đầy đủ theo đơn, tuân theo chế độ ăn kiêng DASH, giảm muối, tập thể dục đều đặn và loại bỏ các yếu tố nguy cơ như hút thuốc, uống rượu. Đây không chỉ là việc uống thuốc mà còn là cam kết lâu dài với những thay đổi lối sống.

1.2. Ý nghĩa của tuân thủ điều trị hiệu quả

Khi tuân thủ điều trị tốt, người bệnh có thể kiểm soát huyết áp ở mức bình thường, giảm 50% nguy cơ đột quỵ và 25% nguy cơ nhồi máu. Tuân thủ điều trị cũng giúp cải thiện sức khỏe toàn thể, tăng chất lượng cuộc sống và giảm chi phí điều trị các biến chứng.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị của người bệnh

Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp rất đa dạng và phức tạp. Có thể chia thành yếu tố liên quan đến bệnh nhân, yếu tố liên quan đến bệnh lýyếu tố liên quan đến hệ thống y tế. Theo luận văn thạc sĩ từ Trường Đại học Thăng Long, những rào cản ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị bao gồm: thiếu kiến thức về bệnh, chi phí điều trị cao, tác dụng phụ của thuốc, quên dùng thuốc, và mối quan hệ không tốt với nhân viên y tế. Ngoài ra, tuân thủ điều trị còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố xã hội như gia đình, công việc, và môi trường sống. Việc xác định chính xác các yếu tố này sẽ giúp đặt ra chiến lược can thiệp tuân thủ điều trị phù hợp với từng đối tượng.

2.1. Yếu tố liên quan đến bệnh nhân

Tuổi tác, giới tính, kiến thức, thái độ về tuân thủ điều trị là những yếu tố liên quan quan trọng. Bệnh nhân cao tuổi, có trình độ học vấn thấp, hoặc thiếu động lực thường không tuân thủ điều trị tốt. Ngoài ra, tính cách, khả năng tự quản lý và sự hỗ trợ từ gia đình cũng ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp.

2.2. Yếu tố liên quan đến hệ thống chăm sóc sức khỏe

Chất lượng dịch vụ y tế, khả năng tiếp cận, chi phí khám chữa bệnh, và mối quan hệ bệnh nhân-bác sĩ ảnh hưởng lớn đến tuân thủ điều trị. Một hệ thống y tế tốt với nhân viên được đào tạo giúp nâng cao tuân thủ điều trị tăng huyết áp hiệu quả hơn.

III. Kết quả nghiên cứu về tuân thủ điều trị tăng huyết áp tại Việt Nam

Nghiên cứu thực hiện tại Khoa Khám Bệnh, Bệnh viện Đại học Y Dược Hà Nội năm 2023 trên 240 người bệnh tăng huyết áp cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị đạt khoảng 65%. Trong đó, tuân thủ điều trị về dùng thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất, nhưng tuân thủ về chế độ ăn kiêngluyện tập thể dục vẫn còn thấp. Các rào cản ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị chính bao gồm: quên dùng thuốc (42%), tác dụng phụ của thuốc (28%), chi phí cao (20%), và thiếu kiến thức (18%). Tuân thủ điều trị tốt hơn ở nhóm bệnh nhân có độ tuổi từ 45-60, có bệnh lý kèm theo, và được hỗ trợ từ gia đình. Kết quả này nhấn mạnh nhu cầu cần thiết của can thiệp tuân thủ điều trị từ các nhân viên y tế.

3.1. Tỷ lệ tuân thủ điều trị tại các bệnh viện

Tuân thủ điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện đạt 65%, trong đó nam giới có tuân thủ điều trị cao hơn nữ giới. Tuân thủ điều trị tốt nhất ở nhóm bệnh nhân đã mắc bệnh từ 5 năm trở lên, cho thấy thời gian tuân thủ tăng theo thời gian mắc bệnh.

3.2. Các rào cản chính trong thực hành

Rào cản ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị phổ biến nhất là quên dùng thuốc do lối sống bận rộn. Tác dụng phụ của thuốc khiến nhiều bệnh nhân muốn ngừng dùng. Chi phí điều trị cao là yếu tố liên quan đến tuân thủ ở nhóm thu nhập thấp.

IV. Giải pháp can thiệp nâng cao tuân thủ điều trị tăng huyết áp

Để nâng cao tuân thủ điều trị tăng huyết áp, cần thực hiện can thiệp tuân thủ đa chiều. Thứ nhất, giáo dục bệnh nhân về bệnh, tầm quan trọng của tuân thủ điều trị, và những lợi ích của việc kiểm soát huyết áp. Thứ hai, can thiệp tuân thủ về quản lý thuốc thông qua hộp thuốc thông minh, lịch nhắc nhở hoặc ứng dụng di động. Thứ ba, hỗ trợ tâm lý xã hội từ bác sĩ, y tá, và gia đình rất quan trọng. Thứ tư, kiểm soát tác dụng phụ của thuốc bằng cách điều chỉnh liều lượng hoặc thay đổi loại thuốc. Cuối cùng, theo dõi định kỳđánh giá tuân thủ điều trị giúp phát hiện sớm những người không tuân thủ để có can thiệp kịp thời. Nhân viên y tế cần được đào tạo về kỹ năng giao tiếpđộng lực hoá bệnh nhân để tăng cơ hội tuân thủ điều trị tốt.

4.1. Giáo dục và thông tin cho bệnh nhân

Giáo dục bệnh nhân tăng huyết áp về bệnh, thuốc, chế độ ăn, và luyện tập là nền tảng cho tuân thủ điều trị tốt. Cần cung cấp thông tin rõ ràng, dễ hiểu, và được cá nhân hóa theo từng đối tượng bệnh nhân. Can thiệp tuân thủ qua các buổi nói chuyện, bài viết, video hoặc ứng dụng di động rất hiệu quả.

4.2. Hỗ trợ từ hệ thống y tế và gia đình

Hệ thống y tế cần tạo điều kiện tiếp cận dễ dàng đến dịch vụ chăm sóc. Hỗ trợ gia đình trong quản lý tuân thủ điều trị như nhắc nhở uống thuốc, hỗ trợ chế độ ăn uống, và động viên bệnh nhân luyện tập tăng tuân thủ điều trị tăng huyết áp một cách bền vững.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp (THA) là bệnh mạn tính phổ biến nhất không những ở nước ta mà còn ở các quốc gia khác trên thế giới. Bệnh lý ngày càng gia tăng và đã trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng [15]. Dự báo đến năm 2025, sẽ có khoảng 1,56 tỷ người mắc THA (tương đương 29,2% dân số) [66]. Tại Việt Nam, bệnh THA có xu hướng tăng lên rõ rệt.

Sau hơn 30 năm, từ năm 1960 đến 1999, tỷ lệ tăng THA từ 2 - 3% lên đến 16,05% (tăng gấp 6 - 8 lần) [22]. Năm 2015 - 2016, một nghiên cứu tại cộng đồng do Viện Tim mạch Việt Nam tiến hành tại 8 tỉnh/thành phố, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ THA ở người từ 25 tuổi trở lên chiếm 25,1% [42]. Hiện nay việc tuân thủ điều trị (TTĐT) của người THA vẫn còn chưa tốt. Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), không tuân thủ điều trị hoặc tuân thủ kém được xem là lý do quan trọng dẫn đến việc kiểm soát huyết áp không tốt, đưa đến các biến chứng nặng nề và tử vong ở người bệnh THA.

Theo nghiên cứu của Abegar, T., Shehab và cộng sự (2017) phân tích tổng hợp tình hình tuân thủ điều trị THA theo thang điểm Morisky trên 25 nghiên cứu của 15 Quốc gia từ 2009 đến 2016 cho thấy tỷ lệ người bệnh không tuân thủ điều trị là 45,2% [46]. Tại Trà Vinh theo nghiên cứu của Ngô Văn Kiệp (2017) tỷ lệ TTĐT chung chưa cao chiếm 53,0% do đó người bệnh cần được giáo dục sức khỏe tốt hơn về tình trạng bệnh của mình [24]. Tại Cần Thơ một số đề tài nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ TTĐT của người bệnh THA còn đáng báo động, theo kết quả nghiên cứu của Lê Trương Phúc Thuấn (2016) tỷ lệ TTĐT đạt là 31,3% [35]; Nguyễn Bá Nam (2018) là 45,6% [26]; Trần Song Hậu và cộng sự (2021) là 53,3% [12]. Tuân thủ điều trị được định nghĩa theo mức độ hành vi của một người như mức độ uống thuốc, tuân theo chế độ ăn kiêng hoặc thực hiện thay đổi lối sống tương ứng với các khuyến cáo đã được thống nhất [16].

Không tuân thủ điều trị huyết áp ảnh hưởng đến 10%- 80% người bệnh tăng huyết áp và là một trong những nguyên nhân gây ra các biến chứng THA nặng nề. Việc không tuân thủ điều trị hoặc tuân thủ điều trị kém liên quan tới cường độ tăng huyết áp và là một chỉ số tiên lượng xấu ở người bệnh tăng huyết áp. Nguyên nhân của việc không 1 Thư viện ĐH Thăng Long tuân thủ điều trị huyết áp là đa yếu tố bao gồm các nguyên nhân liên quan đến hệ thống chăm sóc sức khỏe, thuốc điều trị, bệnh, người bệnh và tình trạng kinh tế của họ. Hàng năm bệnh viện Đại học Y dược Đại học Quốc gia Hà Nội có khoảng hơn bốn nghìn người bệnh THA khám và điều trị và cũng có rất nhiều người bệnh bị tai biến do THA gây ra.

Hiện nay ở Bệnh viện Đại học Y dược Đại học Quốc gia Hà Nội chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề tuân thủ điều trị của người bệnh THA. Để tìm hiểu rõ hơn về mức độ tuân thủ điều trị của người bệnh THA, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp để giúp người bệnh kiểm soát được huyết áp tốt hơn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp theo dõi tại khoa khám bệnh, Bệnh viện Đại học Y dược - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2023” nhằm các mục tiêu sau: 1. Mô tả sự tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp theo dõi tại khoa khám bệnh, Bệnh viện Đại học Y dược - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2023. Phân tích một số yếu tố liên quan và rào cản đến sự tuân thủ điều trị của người bệnh.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Đại cương về bệnh tăng hyết áp 1. Khái niệm huyết áp, tăng huyết áp và phân loại tăng huyết áp * Huyết áp (HA): Là áp lực máu cần thiết tác động lên thành động mạch nhằm đưa máu đến nuôi dưỡng các mô trong cơ thể. Huyết áp thể hiện bằng hai chỉ số: (1) HA tâm thu, bình thường từ 90 đến 139 mmHg; (2) HA tối thiểu (HA tâm trương), bình thường từ 60 đến 89 mmHg [22]. * Tăng huyết áp: Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg và/ hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg [16], [46].

Tại Việt Nam, năm 2010 theo Bộ Y tế một người trưởng thành (≥18 tuổi) được gọi là tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90mmHg [1]. Tăng huyết áp thường không gây triệu chứng gì đặc biệt, do đó để chẩn đoán THA nhất thiết phải đo huyết áp định kỳ, thường xuyên. Theo Cẩm nang Điều trị Nội khoa (Nhà xuất bản Y học), tăng huyết áp là khi: (i) HA đo tại cơ sở y tế ≥ 140/90 mmHg hoặc khi đo tại nhà và khi theo dõi huyết áp lưu động 24 giờ ≥ 135/85 mmHg; hoặc (ii) huyết áp không tăng nhưng có bằng chứng THA như đang dùng thuốc hạ huyết áp hoặc có biến chứng như bệnh tim, tai biến mạch máu não do tăng huyết áp. * Phân độ tăng huyết áp: Phân độ tăng huyết áp của người bệnh theo chỉ số huyết áp tâm thu hoặc huyết áp tâm trương cao hơn [38].

Theo Báo cáo lần thứ 7 của Liên Ủy ban Quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị THA (JNC VII) [52], phân độ THA như sau: 3 Thư viện ĐH Thăng Long Bảng 1. Phân độ THA ở người trên 18 tuổi theo JNC VII -2003 [38], [52] Phân độ HA HATT ( mmHg) HATTr( mmHg) HA bình thường < 120 Và < 80 Tiền THA 130 – 139 Và/ hoặc 80 – 89 THA độ 1 140 – 159 Và/ hoặc 90 -99 THA độ 2 >160 Và / hoặc >100 Bảng 1. Phân độ tăng huyết áp theo VSH/VNHA 2022 [17] HATT HATTr Phân loại (mmHg) (mmHg) HA bình thường <130 Và <85 HA bình thường cao 130 – 139 Và/ hoặc 85 – 89 (Tiền tăng huyết áp) THA độ 1 140 – 159 Và / hoặc 90 – 99 THA độ 2 ≥160 Và/ hoặc ≥100 Cơn tăng huyết áp ≥180 Và/ hoặc ≥120 THA tâm thu đơn độc ≥ 140 Và < 90 Các tiêu chuẩn trên chỉ dùng cho những người hiện tại không dùng các thuốc hạ áp và không trong tình trạng bệnh cấp tính. + Phân loại theo giai đoạn THA, theo Tổ chức Y tế thế giới [67] -THA giai đoạn 1: chưa có dấu hiệu khách quan về tổn thương thực thể.

- THA giai đoạn 2: có ít nhất một tổn thương cơ quan đích như dày thất trái, hẹp toàn thể hay khu trú động mạch võng mạc, protein niệu hoặc creatinin máu tăng nhẹ (110 - 130 µmol/l), siêu âm hoặc X quang thấy mảng vữa xơ ở động mạch cảnh, động mạch đùi, động mạch chủ bụng. - THA giai đoạn 3: có triệu chứng và dấu hiệu tổn thương thực thể ở cơ quan đích. + Cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim + Tai biến mạch máu não. + Đáy mắt: chảy máu, xuất tiết võng mạc, phù gai thị.

+ Thận: creatinin máu >130 µmol/lít. 4 + Mạch máu: phồng tách động mạch, tắc mạch. *Tăng huyết áp áo choàng trắng: Những đối tượng này có nguy cơ tim mạch trung gian giữa huyết áp bình thường và tăng huyết áp thật sự. Chẩn đoán được khẳng định với sự lăp lại các phương pháp đo huyết áp phòng khám và ngoài phòng khám.

Nếu nguy cơ tim mạch chung của họ thấp và không có tổn thương cơ quan đích do tăng huyết áp, có thể không cần điều trị bằng thuốc. Tuy nhiên, họ nên được theo dõi với thay đổi lối sông, vì họ có thể tiến triển thành tăng huyết áp thật sự và cần phải dùng thuốc điều trị [16]. * Tăng huyết áp ẩn giấu: Những người bệnh này có nguy cơ biến cố tim mạch tương tự như tăng huyết áp thật sự. Các chẩn đoán cần xác định với sự lặp lại các phương pháp đo huyết áp phòng khám và ngoài phòng khám.

Tăng huyết áp ẩn giấu có thể yêu cầu điều trị bằng thuốc nhằm mục đích bình thường hóa HA ngoài phòng khám [16]. Các triệu chứng của bệnh tăng huyết áp Người bị bệnh THA có thể gặp một số triệu chứng. Tuy nhiên, các triệu chứng này không đặc hiệu của người bệnh THA [1]: - Đau đầu, đau khu trú vùng trán, chẩm hoặc thái dương, có khi bị kích thích mạnh như ồn ào, tức giận,.đau âm ỉ, nhưng cũng có khi đau dữ dội. - Ù tai, hoa mắt, chóng mặt.

- Đi lại loạng choạng không vững - Hay quên, trí nhớ giảm,. - Rối loạn vận mạch: tê chân tay, mất cảm giác, run đầu chi,. - Rối loạn thần kinh thực vật: Hay có cơn bốc hỏa, đỏ mặt, nóng bừng người,. thường gặp về đêm.

Nguyên nhân gây tăng huyết áp Tăng huyết áp nguyên phát: Phần lớn THA ở người trưởng thành là không rõ nguyên nhân, chỉ có khoảng 10% các trường hợp là có nguyên nhân (THA thứ phát). Cần chú ý tìm nguyên nhân trong các trường hợp như THA ở người trẻ tuổi (dưới 30 tuổi); THA kháng trị; THA tiến triển hoặc ác tính [1]. 5 Thư viện ĐH Thăng Long Các nguyên nhân gây THA thứ phát: - Bệnh thận cấp hoặc mãn tính: viêm cầu thân cấp/ mãn, viêm thận kẽ, sỏi thận, thận đa nang, thận ứ nước, suy thân. - Hẹp động mạch thận - U tủy thượng thận.

- Cường Aldosterone tiên phát (Hội chứng Conn). - Hội chứng Cushing - Bệnh lý tuyến giáp/ cận giáp, tuyến yên - Do thuốc, liên quan đến thuốc. - Hẹp eo động mạch chủ. - Nhiễm độc thai nghén - Ngừng thở khi ngủ.

- Yếu tố tâm thần [1] 1. Các yếu tố nguy cơ của bệnh tăng huyết áp Các bệnh không lây nhiễm thường không xác định được nguyên nhân cụ thể mà chỉ có các yếu tố góp phần làm bệnh phát triển gọi là các yếu tố nguy cơ. Theo Tổ chức Y tế thế giới, yếu tố nguy cơ là bất cứ thuộc tính, đặc điểm nào làm tăng khả năng mắc bệnh không lây nhiễm. Các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm gồm: Hành vi lối sống, môi trường và các yếu tố sinh học.

- Tuổi: Tỷ lệ THA tăng theo tuổi, có đến hơn một nửa số người ở độ tuổi 60 – 90, 3/4 số người 70 tuổi trở lên bị THA [48], [62]. Tuổi càng cao huyết áp càng tăng, mức độ THA song song với mức độ xơ cứng thành mạch [68].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ