Tài liệu Y tế: Tuân thủ điều trị của người tăng huyết áp có biến chứng

Nghiên cứu tuân thủ điều trị tăng huyết áp có biến chứng tại Bệnh viện Tim Hà Nội năm 2023. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ.

Trường đại học

Trường Đại Học Thăng Long

Chuyên ngành

Điều Dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2024

116
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm về tuân thủ điều trị tăng huyết áp

Tuân thủ điều trị tăng huyết áp là quá trình mà người bệnh thực hiện các khuyến cáo của cán bộ y tế một cách nhất quán, bao gồm uống thuốc đúng liều lượng, đúng thời gian, và tuân theo các chỉ dẫn về lối sống. Đây là yếu tố quan trọng quyết định thành công trong kiểm soát huyết áp và phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm. Nghiên cứu tại Bệnh viện Tim Hà Nội năm 2023 cho thấy mức độ tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp có biến chứng đạt được thông qua các biện pháp can thiệp lâu dài. Việc nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của tuân thủ điều trị thuốc giúp cải thiện kết quả điều trị lâm sàng và chất lượng sống của bệnh nhân.

1.1. Định nghĩa tuân thủ điều trị

Tuân thủ điều trị được định nghĩa là mức độ bệnh nhân tuân theo các hướng dẫn điều trị từ nhân viên y tế. Bao gồm thực hiện đúng phác đồ thuốc, thời gian uống thuốc, thay đổi lối sống, và đi khám định kỳ. Đối với bệnh nhân tăng huyết áp, việc tuân thủ điều trị là yếu tố sống còn để kiểm soát huyết áp hiệu quả.

1.2. Tầm quan trọng của tuân thủ điều trị

Tuân thủ điều trị tăng huyết áp giúp giảm nguy cơ biến chứng tim mạch, đột quỵ và suy thận. Theo nghiên cứu tại Bệnh viện Tim Hà Nội, bệnh nhân có biến chứng cần tuân thủ điều trị nghiêm ngặt. Nâng cao mức độ tuân thủ là nhiệm vụ trọng tâm của ngành điều dưỡng hiện nay.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị

Tuân thủ điều trị tăng huyết áp chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau bao gồm đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm bệnh lý, tác dụng phụ của thuốc, và hỗ trợ từ gia đình. Nghiên cứu thực hiện tại bệnh viện tim cho thấy mức độ tuân thủ điều trị thay đổi tùy theo từng nhóm đối tượng bệnh nhân. Những người có biến chứng tăng huyết áp thường gặp khó khăn hơn trong tuân thủ điều trị thuốc do tác dụng phụ và yêu cầu điều trị phức tạp. Việc xác định các yếu tố liên quan đến tuân thủ giúp điều dưỡng viên can thiệp hiệu quả hơn.

2.1. Yếu tố nhân khẩu học và kinh tế xã hội

Độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, và điều kiện kinh tế ảnh hưởng lớn đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp. Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân lớn tuổi thường có mức độ tuân thủ cao hơn. Tuy nhiên, những người có điều kiện kinh tế khó khăn sẽ gặp trở ngại trong tuân thủ điều trị thuốc do chi phí.

2.2. Tác dụng phụ và hỗ trợ gia đình

Tác dụng phụ của thuốc là nguyên nhân chính dẫn đến không tuân thủ điều trị. Gia đình đóng vai trò quan trọng trong tuân thủ điều trị tăng huyết áp, nhất là người nhắc nhở uống thuốc. Sự hỗ trợ từ người thân tăng mức độ tuân thủ đáng kể.

III. Kiến thức và thực hành về điều trị tăng huyết áp

Kiến thức về điều trị tăng huyết áp là nền tảng để bệnh nhân có thể tuân thủ điều trị hiệu quả. Những bệnh nhân có kiến thức về điều trị THA chính xác sẽ thực hiện tuân thủ điều trị thuốc tốt hơn. Theo kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện Tim Hà Nộ, thực hành về điều trị bao gồm khám sức khỏe định kỳ, đo huyết áp, thay đổi chế độ ăn uống, và tập luyện thể dục. Bệnh nhân có biến chứng cần hiểu rõ hơn về tuân thủ điều trị để phòng ngừa tái phát và biến chứng thêm.

3.1. Kiến thức về điều trị và phòng ngừa biến chứng

Kiến thức về điều trị tăng huyết áp bao gồm hiểu biết về nguyên nhân bệnh, các triệu chứng, và phương pháp kiểm soát. Bệnh nhân cần biết rằng tuân thủ điều trị giúp phòng ngừa biến chứng tăng huyết áp như nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Giáo dục sức khỏe về tuân thủ điều trị thuốc cần được thực hiện định kỳ.

3.2. Thực hành lối sống và chế độ ăn uống

Thực hành điều trị tăng huyết áp không chỉ là uống thuốc mà còn bao gồm thay đổi lối sống. Giảm muối, tập luyện thể dục đều đặn, và duy trì cân nặng hợp lý là những biện pháp tuân thủ điều trị không dùng thuốc. Những bệnh nhân có biến chứng cần tuân thủ nghiêm ngặt các khuyến cáo này.

IV. Vai trò của điều dưỡng trong nâng cao tuân thủ điều trị

Điều dưỡng viên đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao tuân thủ điều trị tăng huyết áp cho bệnh nhân. Thông qua tư vấn, giáo dục sức khỏe, và theo dõi ngoại trú, điều dưỡng giúp bệnh nhân hiểu rõ tầm quan trọng của tuân thủ điều trị thuốc. Nghiên cứu tại Bệnh viện Tim Hà Nội cho thấy mức độ tuân thủ được cải thiện đáng kể khi có cán bộ y tế tư vấn thường xuyên. Bệnh nhân tăng huyết áp có biến chứng nhất là cần sự theo dõi sát sao từ điều dưỡng để tuân thủ điều trị liên tục và hiệu quả.

4.1. Tư vấn và giáo dục sức khỏe

Điều dưỡng cần tư vấn cá nhân hóa dựa trên tình trạng sức khỏe từng bệnh nhân. Giáo dục về tuân thủ điều trị tăng huyết áp bao gồm hướng dẫn sử dụng thuốc, theo dõi huyết áp tại nhà, và nhận biết cảnh báo. Các cán bộ y tế cần kiên nhẫn và lặp lại thông điệp để nâng cao mức độ tuân thủ của bệnh nhân.

4.2. Theo dõi ngoại trú và đánh giá tuân thủ

Theo dõi ngoại trú tại bệnh viện giúp đánh giá mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân. Điều dưỡng sử dụng các công cụ như thang đo Morisky-8 để đánh giá tuân thủ điều trị thuốc. Bệnh nhân có biến chứng cần được theo dõi thường xuyên hơn để đảm bảo tuân thủ điều trị liên tục.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 1. Tổng quan về Tăng huyết áp 1. Chẩn đoán Tăng huyết áp và phân loại Tăng huyết áp Huyết áp: là áp lực máu cần thiết tác động lên thành động mạch nhằm đưa máu đến nuôi dưỡng các mô trong cơ thể. Huyết áp thể hiện bằng hai chỉ số: (1) Huyết áp tâm thu (Huyết áp tối đa), bình thường từ 90 đến 139 mmHg; (2) Huyết áp tâm trương (Huyết áp tối thiểu), bình thường từ 60 đến 89 mmHg.

Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp Định nghĩa Tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu (HATT) và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) tương ứng lớn hơn hoặc bằng 140 hoặc 90 mmHg. Phân hội Tăng huyết áp - Hội tim mạch học Việt Nam (VSH/VNHA) đã đưa ra Khuyến cáo của về chẩn đoán và điều trị Tăng huyết áp năm 2022 trong đó có chẩn đoán tăng huyết áp và phân loại THA theo ngưỡng huyết áp đo tại phòng khám (bảng 1. Chẩn đoán tăng huyết áp theo ngưỡng huyết áp đo tại phòng khám Huyết áp Huyết áp tâm thu Phân loại tâm trương (mmHg) (mmHg) Bình thường <130 và <85 HA bình thường – cao (Tiền THA) 130-139 và/hoặc 85-89 Tăng huyết áp độ 1 140-159 và/hoặc 90-99 Tăng huyết áp độ 2 ≥160 và/hoặc ≥100 Cơn THA ≥180 và/hoặc ≥100 THA tâm thu đơn độc ≥140 Và <90 Nguồn: Khuyến cáo của Phân hội Tăng huyết áp - Hội tim mạch học Việt Nam (VSH/VNHA) về chẩn đoán và điều trị Tăng huyết áp năm 2022 [24] HA bình thường khi cả HATT < 130 mmHg và HATTr < 85mmHg. Khi HATT lớn hơn hoặc bằng 130 nhưng dưới 140 mmHg và/hoặc HATTr lớn hơn hoặc bằng 85 4 nhưng dưới 90 mmHg, bệnh nhân được coi là HA bình thường - cao hoặc tiền THA.

HA bình thường-cao nhằm để xác định những người có thể được điều trị bằng các biện pháp thay đổi lối sống và những người cần được điều trị bằng thuốc nếu có chỉ định [24]. Cơn THA được định nghĩa là HATT và/hoặc HATTr lớn hơn hoặc bằng 180 và/hoặc 120 mmHg; trong tình huống đó cần đánh giá tổn thương cơ quan đích để chẩn đoán THA khẩn cấp hoặc cấp cứu để có hướng xử trí thích hợp [24]. Nguyên nhân gây Tăng huyết áp Phần lớn THA ở người trưởng thành (90%) là không rõ nguyên nhân (THA nguyên phát) [1] hay còn gọi là tăng huyết áp vô căn. Chỉ có 10% là có tìm thấy nguyên nhân tăng huyết áp.

Huyết áp cao có xu hướng xảy ra ở người có tiền sử gia đình có bệnh THA, nam hay gặp hơn nữ, tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh THA càng nhiều. Bên cạnh đó có nhiều các yếu tố nguy cơ khác của bệnh tăng huyết áp như béo phì, ĐTĐ, căng thẳng, thiếu hoạt động thể chất, uống rượu, bia [19]. Chỉ có khoảng 10% các trường hợp THA là có nguyên nhân (THA thứ phát) [1]. Các nguyên nhân hay gặp là: - Các bệnh lý nội tiết: u tuyến tuỷ, tuyến vỏ thượng thận, cường giáp, u tuyến yên.

- Bệnh thận mạn tính, suy thận. - Hẹp động mạch thận. - Dùng thuốc: corticoid, thuốc tránh thai. Tỷ lệ mắc Tăng huyết áp trên thế giới và ở Việt Nam Thực trạng tăng huyết áp trên Thế giới: Tỷ lệ hiện mắc THA tăng theo thời gian.

Ước tính hiện có khoảng 1 tỷ người mắc tăng huyết áp và dự kiến sẽ tăng lên 1,5 tỷ người vào năm 2025. THA là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sớm cho khoảng 10 triệu người năm 2015, trong đó 4,9 triệu người do bệnh mạch vành và 3,5 triệu người do đột quỵ. Tăng huyết áp cũng là yếu tố nguy cơ chính của bệnh THA, rung nhĩ, bệnh máu ngoại vi, bệnh thận mạn tính. Tăng huyết áp là nguyên nhân hàng đầu của bệnh tim mạch và tử vong sớm trên toàn thế giới.

Do việc sử dụng rộng rãi các loại thuốc hạ huyết áp, huyết áp trung bình toàn cầu (HA) không đổi hoặc giảm nhẹ trong bốn thập kỷ qua. Thư viện ĐH Thăng Long 5 Ngược lại, tỷ lệ tăng huyết áp đã tăng lên, đặc biệt là ở các nước có thu nhập thấp và trung bình (LMICs). Các ước tính cho thấy 31,1% người trưởng thành (1,39 tỷ) trên toàn thế giới bị tăng huyết áp vào năm 2010. Tỷ lệ tăng huyết áp ở người lớn ở các nước thu nhập trung bình và nhỏ (31,5%, 1,04 tỷ người) cao hơn ở các nước có thu nhập cao (28,5%, 349 triệu người).

Sự khác biệt về mức độ của các yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp, chẳng hạn như lượng natri cao, lượng kali thấp, béo phì, uống rượu, ít hoạt động thể chất và chế độ ăn uống không lành mạnh, có thể giải thích một số sự không đồng nhất trong khu vực về tỷ lệ tăng huyết áp. Mặc dù tỷ lệ lưu hành ngày càng tăng, nhưng tỷ lệ nhận thức, điều trị và kiểm soát huyết áp còn thấp, đặc biệt là ở các nước thu nhập thấp và có rất ít đánh giá toàn diện về tác động kinh tế của tăng huyết áp [52]. Thực trạng tăng huyết áp trên Thế giới Thực trạng tăng huyết áp tại Việt Nam Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Huy đánh giá thực trạng tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan ở đồng bào dân tộc Chăm từ 18 tuổi trở lên tại khu vực Nam Trung Bộ năm 2017 tỷ lệ đồng bào Chăm mắc tăng huyết áp là 31,5% (nam 34,4% và nữ 30,3%). Tỷ lệ đồng bào Chăm mắc tăng huyết áp mới phát hiện là 20,8% (nam 22,7% và nữ 20,1%).

Một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp đặc trưng ở đồng bào dân tộc Chăm được tìm thấy gồm béo phì, hút thuốc lá, ăn mặn, ăn nhiều mỡ, không hoạt động thể lực, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, tình trạng kinh 6 tế (p < 0,05) [30]. Nghiên cứu của Trần Quốc Cường và cộng sự (2020) ở người từ 18 – 69 tuổi tại quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh năm 2018 – 2019 tỷ lệ tăng huyết áp ở người từ 18 - 69 tuổi tại 3 phường nghiên cứu 33,5%; huyết áp tâm thu 123,28 ± 15,74 mmHg; huyết áp tâm trương 77,22 ± 9,90 mmHg. Đã xác định được 11 yếu tố nguy cơ có liên quan đến tăng huyết áp (nhóm tuổi; giới tính; thừa cân - béo phì; tỷ số vòng eo/vòng mông; hút thuốc lá; thói quen ăn mỡ động vật; đái tháo đường; tăng cholesterol máu; bệnh lý tim mạch; nhận biết tăng huyết áp, tăng cholesterol máu, tăng đường huyết; theo dõi thành phần dinh dưỡng bữa ăn hằng ngày. Nghiên cứu chỉ ra, tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp ở người từ 18 - 69 tuổi là khá cao (33,5%).

Có 11 yếu tố liên quan đến tăng huyết áp (2 yếu tố nhân khẩu học, 2 yếu tố trung gian và 7 yếu tố thuộc hành vi cá nhân, thói quen, lối sống) [38]. Nghiên cứu Thực trạng bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp ở người trưởng thành tại tỉnh Thái Nguyên năm 2020 trên 1500 người dân ở độ tuổi trưởng thành cho thấy tình trạng bệnh tăng huyết áp: 588 người mắc THA (39,2%). Tỷ lệ mắc tăng huyết áp tăng dần theo độ tuổi. Từ 15,8% ở độ tuổi 18 – 39 đến 55,3% ở độ tuổi trên 70.

Tỷ lệ mắc ở giới nam (51,3%) cao hơn giới nữ (34,6%). Có mối liên quan giữa ăn mặn với tăng huyết áp. Tỷ lệ THA cao ở nam, ở người có bệnh ĐTĐ, tăng theo tuổi,và chỉ số vòng eo [36]. Như vậy, tỷ lệ mắc tăng huyết áp ở Việt Nam cũng có xu hướng tăng lên.

Tỷ lệ mắc tăng huyết áp có sự khác nhau giữa các vùng địa lý, các độ tuổi khác nhau và giới tính khác nhau, tăng huyết áp tăng dần theo độ tuổi và giới nam có xu hướng mắc tăng huyết áp nhiều hơn giới nữ. Thực trạng tăng huyết áp có biến chứng Các biến chứng của tăng huyết áp rất đa dạng và phong phú, nhưng thưng diễn biến âm thầm, ngày một nặng dần và ảnh hưởng đến nhiều cơ quan bộ phận của cơ thể của người bệnh bằng nhiều cách. Biểu hiện lâm sàng của các biến chứng thường âm thầm làm cho người bệnh chủ quan tưởng mình vẫn bình thường. Đại đa số các bệnh nhân bị THA (trên 90%) thường không có các dấu hiệu nào cảnh báo trước.

Do vậy, việc kiểm tra huyết áp thường xuyên, nhất là những người có nguy cơ cao là hết Thư viện ĐH Thăng Long 7 sức cần thiết và quan trọng. Các biến chứng có thể xảy ra của bệnh tăng huyết áp [7], [12]. - Các biến chứng về não: tai biến mạch não (bao gồm cả xuất huyết não và nhũn não); bệnh não do THA. - Các biến chứng tim mạch: nhồi máu cơ tim, bệnh động mạch vành, THA [15] - Các biến chứng về mắt, tiến triển theo các giai đoạn, thậm chí có thể dẫn đến mù lòa.

- Các biến chứng về thận: đái ra protein; suy thận. - Các biến chứng về mạch ngoại vi, trong đó đặc biệt nguy hiểm là biến chứng tách thành động mạch chủ có thể dẫn đến tử vong. Các biến chứng này có thể tái phát hoặc nặng thêm nếu THA và các bệnh lý đồng mắc không được điều trị đầy đủ. Biến chứng não Biến chứng não là những biến chứng rất thường gặp và thường nặng nề với các người bệnh tăng huyết áp.

Tai biến mạch máu não bao gồm cả xuất huyết não và nhồi máu não với các triệu chứng thần kinh khu trú không quá 24 giờ hoặc bệnh não do tăng huyết áp với lú lẫn, hôn mê kèm theo co giật, nôn mửa, nhức đầu dữ dội [79]. Đây là biến chứng có thể xảy ra đột ngột vào bất cứ thời gian nào trong ngày nhưng chủ yếu vào ban đêm hoặc khi thời tiết thay đổi, mùa đông kéo dài. Chính vì vậy kiểm soát tốt huyết áp nhằm tránh các cơn tăng huyết áp kịch phát là ưu tin hàng đầu để giảm thiểu các biến chứng này [1], [7]. Khi đột quỵ, một phần não bị hư hại đột ngột do mất máu nuôi não do tắc hoặc vỡ mạch máu não.

Khi thiếu máu lên não các tế bào não sẽ ngừng hoạt động và sẽ chết đi sau vài phút. Những tổn thương này dẫn đến các vùng cơ thể do phần não đó điều khiển sẽ bị tổn thương như yếu, liệt, tê mất cảm giác nửa người, không nói được hoặc hôn mê, thậm chí là tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Nhiều trường hợp được cứu sống nhưng có thể bị tàn phế suốt đời, giảm tuổi thọ và không có khả năng lao động [1], [3]. Tai biến mạch máu não là một loại hình tổn thương nghiêm trọng nếu không được xử lý kịp thời có thể dẫn tới tử vong hoặc gây ra các di chứng nặng nề.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ