Tài liệu: Tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường type 2 theo dõi

Nghiên cứu tuân thủ điều trị bệnh đái tháo đường type 2 tại Trung tâm Y tế Hòa Bình 2023, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình điều trị.

Trường đại học

Trường Đại Học Thăng Long

Chuyên ngành

Điều Dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

108
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của tuân thủ điều trị đái tháo đường

Tuân thủ điều trị là quá trình bệnh nhân thực hiện đầy đủ các hướng dẫn y tế, bao gồm uống thuốc đúng liều, đúng giờ, thực hiện chế độ ăn uống và hoạt động thể chất theo khuyến cáo. Đối với bệnh đái tháo đường type 2, tuân thủ điều trị là yếu tố quyết định đến hiệu quả kiểm soát mức đường huyết và ngăn ngừa các biến chứng nguy hiểm. Theo nghiên cứu tại Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình năm 2023, tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị còn thấp, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và chi phí điều trị. Tuân thủ điều trị hiệu quả giúp giảm biến chứng, kiểm soát bệnh lâu dài và nâng cao chất lượng sống của người bệnh.

1.1. Định nghĩa tuân thủ điều trị trong đái tháo đường

Tuân thủ điều trị là mức độ mà bệnh nhân tuân theo các khuyến cáo điều trị của nhân viên y tế. Bao gồm: uống thuốc đầy đủ theo đơn, ăn uống đúng chế độ, tập thể dục thường xuyên, theo dõi mức đường huyết, và tham gia các cuộc tư vấn y tế. Trong điều trị đái tháo đường type 2, tuân thủ là nền tảng để đạt được kiểm soát glycemic tốt.

1.2. Ý nghĩa lâm sàng của tuân thủ điều trị

Tuân thủ điều trị tốt góp phần kiểm soát mức glucose máu, giảm nguy cơ biến chứng tim mạch, thận và thần kinh. Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân tuân thủ có tỷ lệ nhập viện thấp hơn, chi phí điều trị giảm, và chất lượng cuộc sống cải thiện đáng kể.

II. Thực trạng tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường type 2

Theo luận văn thạc sĩ điều dưỡng của Nguyễn Thị Thùy tại Đại học Thăng Long năm 2024, tỷ lệ tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường type 2 theo dõi ngoại trú tại Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình vẫn còn những hạn chế. Nhiều bệnh nhân không uống thuốc đều đặn, không thực hiện chế độ ăn uống khuyến cáo, và thiếu hoạt động thể chất thường xuyên. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ bao gồm kiến thức về bệnh, sự hỗ trợ từ gia đình, khả năng kinh tế, và chất lượng dịch vụ y tế. Cải thiện tuân thủ điều trị yêu cầu sự phối hợp giữa nhân viên y tế, gia đình và cộng đồng.

2.1. Tỷ lệ và đặc điểm tuân thủ hiện nay

Nghiên cứu tại Hòa Bình 2023 cho thấy nhiều bệnh nhân đái tháo đường type 2 không tuân thủ đầy đủ điều trị dù nhận được hướng dẫn. Các yếu tố liên quan bao gồm năng lực kinh tế, nơi cư trú, học vấn, và hỗ trợ gia đình. Phụ nữ và bệnh nhân cao tuổi thường gặp khó khăn hơn trong tuân thủ dài hạn.

2.2. Rào cản trong tuân thủ điều trị

Rào cản chính bao gồm: chi phí thuốc cao, quên uống thuốc, tác dụng phụ, thiếu kiến thức, và sự hỗ trợ không đủ từ gia đình. Một số bệnh nhân không nhận thức được tầm quan trọng của tuân thủ điều trị dài hạn, dẫn đến tỷ lệ bỏ trị cao.

III. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị

Tuân thủ điều trị đái tháo đường bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố đa chiều, bao gồm cá nhân, gia đình, xã hội và hệ thống y tế. Từ góc độ cá nhân, kiến thức về bệnh, tuổi tác, giới tính, và tình trạng kinh tế có vai trò quan trọng. Gia đình đóng vai trò hỗ trợ không thể thiếu trong việc khuyến khích và giám sát tuân thủ điều trị. Bên cạnh đó, chất lượng dịch vụ y tế, sự tư vấn và hướng dẫn từ nhân viên y tế cũng ảnh hưởng trực tiếp. Nghiên cứu tại Trung tâm Y tế Hòa Bình cho thấy cải thiện tuân thủ cần tiếp cận toàn diện, kết hợp giáo dục, hỗ trợ xã hội và cải tiến hệ thống chăm sóc sức khỏe.

3.1. Yếu tố cá nhân và kiến thức bệnh

Kiến thức về đái tháo đường type 2 ảnh hưởng lớn đến tuân thủ điều trị. Bệnh nhân hiểu rõ về bệnh, các biến chứng và lợi ích của điều trị thường tuân thủ tốt hơn. Tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn và thái độ cũng là yếu tố quan trọng trong quyết định tuân thủ.

3.2. Vai trò của gia đình và hỗ trợ xã hội

Sự hỗ trợ của gia đình là yếu tố thúc đẩy tuân thủ điều trị hiệu quả. Gia đình giám sát, nhắc nhở và tạo môi trường thuận lợi cho bệnh nhân. Hỗ trợ xã hội, bao gồm các nhóm tự nguyện và chương trình cộng đồng, giúp bệnh nhân cảm thấy được chăm sóc và khích lệ.

3.3. Chất lượng dịch vụ y tế và tư vấn

Dịch vụ y tế chất lượng, nhân viên y tế nhiệt tình, và các chương trình tư vấn định kỳ tăng cường tuân thủ điều trị. Theo dõi ngoại trú tại Trung tâm Y tế giúp bệnh nhân được tư vấn liên tục và điều chỉnh điều trị kịp thời, nâng cao tuân thủ lâu dài.

IV. Giải pháp cải thiện tuân thủ điều trị đái tháo đường

Để nâng cao tỷ lệ tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường type 2, cần triển khai các giải pháp toàn diện. Giáo dục y tế định kỳ giúp bệnh nhân và gia đình hiểu rõ bệnh, phương pháp điều trị và cách quản lý. Cải thiện hệ thống hỗ trợ gia đình thông qua các lớp đào tạo cho người nhà là cần thiết. Hệ thống theo dõi và tư vấn ngoại trú cần được nâng cấp, bao gồm các cuộc gặp định kỳ, tư vấn qua điện thoại và sử dụng công nghệ. Cần giảm chi phí thuốc thông qua các chính sách bảo hiểm y tế. Cuối cùng, xây dựng các nhóm hỗ trợ bệnh nhân trong cộng đồng giúp tăng tuân thủ điều trị dài hạn và cải thiện chất lượng sống.

4.1. Giáo dục y tế và tư vấn chuyên sâu

Giáo dục y tế cần được cá nhân hóa theo nhu cầu từng bệnh nhân. Bao gồm: hướng dẫn uống thuốc, chế độ ăn uống, hoạt động thể chất, theo dõi glucose và nhận biết biến chứng. Tư vấn định kỳ tại Trung tâm Y tế giúp bệnh nhân cập nhật kiến thức và điều chỉnh điều trị kịp thời.

4.2. Cơ chế hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng

Hỗ trợ gia đình cần được tăng cường qua các lớp đào tạo cho người thân. Xây dựng nhóm bệnh nhân trong cộng đồng tạo cơ hội chia sẻ kinh nghiệm, giúp bệnh nhân cảm thấy không bị cô lập và được khích lệ tuân thủ dài hạn.

4.3. Cải thiện hệ thống chăm sóc và công nghệ

Cần cải tiến dịch vụ ngoại trú với số lượng nhân viên y tế đủ, thời gian tư vấn đủ dài. Ứng dụng công nghệ như nhắc nhở qua SMS, ứng dụng di động giúp bệnh nhân quản lý bệnh. Giảm chi phí thuốc thông qua bảo hiểm y tế là yếu tố quan trọng nâng cao tuân thủ điều trị.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh Đái tháo đường [2] 1. Khái niệm về bệnh đái tháo đường: Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh [2].

Điều trị ĐTĐ đòi hỏi tuân thủ đầy đủ chế độ ăn uống, dùng thuốc, rèn luyện thể lực, theo dõi sức khoẻ và khám bệnh định kỳ. Kết quả điều trị ĐTĐ có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng như: tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, điều kiện kính tế… 1. Chẩn đoán bệnh đái tháo đường Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường (theo Hiệp Hội Đái tháo đường Mỹ - ADA) dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau đây: a) Glucose huyết tương lúc đói (fasting plasma glucose: FPG) ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L). Bệnh nhân phải nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 -14 giờ), hoặc: b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g (oral glucose tolerance test: OGTT) ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L).

Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: Bệnh nhân nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng glucose tương đương với 75g glucose, hòa tan trong 250-300 ml nước, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trước đó bệnh nhân ăn khẩu phần có khoảng 150-200 gam carbohydrat mỗi ngày. Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. 3 d) Ở bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L). Phân loại bệnh đái tháo đường a) Đái tháo đường tip 1 (do phá hủy tế bào beta tụy, dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối).

b) Đái tháo đường típe 2 (do giảm chức năng của tế bào beta tụy tiến triển trên nền tảng đề kháng insulin). c) Đái tháo đường thai kỳ (là ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ type 1, type 2 trước đó). d) Thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ do các nguyên nhân khác, như ĐTĐ sơ sinh hoặc ĐTĐ do sử dụng thuốc và hóa chất như sử dụng glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô. BN bị thiếu hụt insulin, tăng glucagon trong máu, không điều trị sẽ bị nhiễm toan ceton.

Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng chủ yếu ở trẻ em và thanh thiếu niên. BN cần insulin để ổn định glucose huyết. Người lớn tuổi có thể bị ĐTĐ tự miễn diễn tiến chậm còn gọi là Latent Autoimmune Diabetes of Adulthood (LADA), lúc đầu BN còn đủ insulin nên không bị nhiễm toan ceton và có thể điều trị bằng thuốc viên nhưng tình trạng thiếu insulin sẽ năng dần với thời gian [2] * Đái tháo đường type 2 Đái tháo đường type 2 trước kia được gọi là ĐTĐ của người lớn tuổi hay ĐTĐ không phụ thuộc insulin, chiếm 90-95% các trường hợp ĐTĐ. Thể bệnh này bao gồm những người có thiếu insulin tương đối cùng với đề kháng insulin.

Ít nhất ở giai đoạn đầu hoặc có khi suốt cuộc sống bệnh nhân ĐTĐ type 2 không cần insulin để sống sót. Có nhiều nguyên nhân của ĐTĐ type 2 nhưng không có một nguyên nhân chuyên biệt nào. BN không có sự phá hủy tế bào beta do tự miễn, không có kháng thể tự miễn trong máu. Đa số BN có béo phì hoặc thừa cân và/hoặc béo phì vùng bụng với vòng eo to.

4 Thư viện ĐH Thăng Long Béo phì nhất là béo phì vùng bụng có liên quan với tăng acid béo trong máu, mô m cũng tiết ra một số hormon làm giảm tác dụng của insulin ở các cơ quan đích như gan, tế bào m , tế bào cơ (đề kháng insulin tại các cơ quan đích). Do tình trạng đề kháng insulin, ở giai đoạn đầu tế bào beta bù trừ và tăng tiết insulin trong máu, nếu tình trạng đề kháng insulin kéo dài hoặc nặng dần, tế bào beta sẽ không tiết đủ insulin và ĐTĐ type 2 lâm sàng sẽ xuất hiện. Tình trạng đề kháng insulin có thể cải thiện khi giảm cân, hoặc dùng một số thuốc nhưng không bao giờ hoàn toàn trở lại bình thường [2]. Phân biệt ĐTĐ type 1 và ĐTĐ type 2 [1] Đặc điểm Đái tháo đường type 1 Đái tháo đường type 2 Tuổi xuất hiện Trẻ, thanh thiếu niên Tuổi trưởng thành - Bệnh diễn biến âm ỉ, ít triệu chứng - Thể trạng béo, thừa cân - Tiền sử gia đình có người - Sút cân nhanh chóng mắc bệnh ĐTĐ type 2 Biểu hiện lâm sàng - Đái nhiều - Đặc tính dân tộc có tỷ lệ - Uống nhiều mắc bệnh cao - Dấu gai đen (Acanthosisnigricans) - Hội chứng buồng trứng đa nang.

Nhiễm ceton, tăng ceton Dương tính Thường không có trong máu, nước tiểu Insulin/C-peptid Thấp/không đo được Bình thường hoặc tăng Kháng thể: Dương tính Âm tính Kháng đảo tụy (ICA) 5 Kháng Glutamic acid decarboxylate 65 (GAD 65) Kháng Insulin (IAA) Kháng Tyrosine Phosphatase (IA-2) Kháng ZincTransposter 8 (ZnT8) Thay đổi lối sống, thuốc Điều trị Bắt buộc dùng Insulin viên và/hoặc Insilin Cùng hiện diện với bệnh tự Có thể có Hiếm miễn khác Các bệnh lý đi kèm lúc mới Không có chẩn đoán: tăng huyết áp, Thường gặp, nhất là hội Nếu có phải tìm các bệnh rối loạn chuyển hóa lipid, chứng chuyển hóa lý khác đồng mắc béo phì 1. Thực trạng bệnh đái tháo đường trên Thế giới và tại Việt Nam Năm 2016, tỷ lệ mắc ĐTĐ ở một số nước thuộc Châu Âu: Tây Ban Nha là 1%, Pháp 1,4%, Anh 1,2%. Tại Châu Mỹ: Argentina 8,2%, Mỹ 6,6%. Tại Châu Phi: Tusinia 3,84% ở thành phố và 1,3% ở nông thôn, Mali 0,9% [26].

Theo thống kế của IDF năm 2017, tỷ lệ mắc ĐTĐ của một số nước châu Á như sau: Nhật Bản 7,7%, Hàn Quốc 8,8%, Malaysia 18,9%, Singapore 13,7%, Thái Lan 8,3%, Philipines 6,2% [18]. Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới số lượng người bệnh đái tháo đường đã tăng từ 108 triệu vào năm 1980 lên 422 triệu vào năm 2014. Đái tháo đường tăng nhanh ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Số hiện mắc ĐTĐ trong người trưởng thành trên 18 tuổi tăng từ 4,7% năm 1980 lên 8,5% năm 2014 [16].

Bệnh tiểu đường là nguyên nhân chính gây mù, suy thận, đau tim, đột quỵ và cắt cụt chi dưới. Năm 2016, có khoảng 6 Thư viện ĐH Thăng Long 1,6 triệu người tử vong trực tiếp do bệnh ĐTĐ, 2,2 triệu tử vong khác liên quan đến đường huyết cao trong năm 2012 [25]. Theo tổ chức Đái tháo đường Quốc tế (IDF), năm 2017 toàn thế giới có khoảng 424,9 triệu người mắc ĐTĐ, con số này có khả năng tăng lên 628,6 triệu người vào năm 2045 [18]. Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ ĐTĐ cao và tốc độ gia tăng nhanh chóng đứng hàng đầu Thế giới.

Theo điều tra quốc gia về Y tế năm 2001-2002, tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc là 2,7% (khu vực thành phố 4,4%, miền núi và trung du 2,1%, đồng bằng 2,7%). Cũng theo điều tra này cho thấy 64,9% số người mắc ĐTĐ không được phát hiện [3]. Năm 2017, Việt Nam có tỷ lệ mắc ĐTĐ là 5,5% dân số trưởng thành (20- 79) [18]. Điều trị bệnh đái tháo đường type 2 * Nguyên tắc điều trị cho người bệnh đái tháo đường a) Lập kế hoạch toàn diện, tổng thể, lấy người bệnh làm trung tâm, cá nhân hóa cho mỗi người mắc đái tháo đường, phát hiện và dự phòng sớm, tích cực các yếu tố nguy cơ, giảm các tai biến và biến cố.

b) Đánh giá tổng thể và quyết định điều trị dựa trên cơ sở: - Tình trạng sức khỏe chung, bệnh lý đi kèm, các chức năng trong hoạt động thường ngày, thói quen sinh hoạt, điều kiện kinh tế, xã hội, yếu tố tâm lý, tiên lượng sống, cá thể hóa mục tiêu điều trị. - Nguyên tắc sử dụng thuốc: can thiệp thay đổi lối sống ưu tiên hàng đầu, hạn chế tối đa lượng thuốc dùng, định kỳ kiểm tra tác dụng và tuân thủ thuốc cũ trước khi kê đơn mới, phác đồ phù hợp có thể tuân thủ tốt - tối ưu điều trị, khả thi với BN, có tính yếu tố chi phí và tính sẵn có. c) Dịch vụ tư vấn dinh dưỡng, hoạt động thể lực, tự theo dõi, hỗ trợ điều trị nên được triển khai, sẵn sàng cung cấp, hỗ trợ cho bác sỹ điều trị, điều dưỡng, nhân viên y tế, người chăm sóc và BN. d) Chất lượng chăm sóc, điều trị BN đái tháo đường cần được thường xuyên giám sát, lượng giá và hiệu chỉnh cho phù hợp 1-2 lần/năm 7 e) Các phương pháp điều trị tổng thể bao gồm một số các biện pháp sau: - Tư vấn, hỗ trợ, can thiệp thay đổi lối sống: không hút thuốc, không uống rượu bia, chế độ ăn và hoạt động thể lực (áp dụng cho tất cả người bệnh, các giai đoạn).

- Tư vấn tuân thủ điều trị, kiểm soát cân nặng - Thuốc uống hạ đường huyết - Thuốc tiêm hạ đường huyết - Kiểm soát tăng huyết áp - Kiểm soát rối loạn lipid máu - Chống đông - Điều trị và kiểm soát biến chứng, bệnh đồng mắc. * Mục tiêu điều trị cần đạt Bảng 1.2: Mục tiêu điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường ở người trưởng thành, không có thai [1] Mục tiêu Chỉ số HbA1c < 7%* Glucose huyết tương mao 80-130 mg/dL (4.2 mmol/L)* mạch lúc đói, trước ăn Đỉnh glucose huyết tương <180 mg/dL (10.0 mmol/L)* mao mạch sau ăn 1-2 giờ Tâm thu <140 mmHg, Tâm trương <90 mmHg Huyết áp Nếu đã có biến chứng thận: Huyết áp <130/85-80 mmHg LDL cholesterol <100 mg/dL (2,6 mmol/L), nếu chưa có biến chứng tim mạch. LDL cholesterol <70 mg/dL (1,8 mmol/L) nếu đã có bệnh Lipid máu tim mạch. Triglycerides <150 mg/dL (1,7 mmol/L) HDL cholesterol >40 mg/dL (1,0 mmol/L) ở nam và >50 mg/dL (1,3 mmol/L) ở nữ.

8 Thư viện ĐH Thăng Long * Mục tiêu điều trị ở các cá nhân có thể khác nhau tùy tình trạng của bệnh nhân. - Mục tiêu điều trị có thể nghiêm ngặt hơn: HbA1c <6,5% (48 mmol/mol) nếu có thể đạt được và không có dấu hiệu đáng kể của hạ đường huyết và những tác dụng có hại của thuốc: Đối với người bị bệnh đái tháo đường trong thời gian ngắn, bệnh ĐTĐ type 2 được điều trị bằng thay đổi lối sống hoặc chỉ dùng metformin, trẻ tuổi hoặc không có bệnh tim mạch quan trọng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ