mở đầu của nhà Trần chính là kết quả tất yếu cho sự suy tàn của nhà Lý từ khoảng giữa TK XII trở đi. Cuối thời nhà Lý, đất nước bước vào một cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng. Bắt đầu từ việc thiên tai, mất mùa, đói kém, dịch bệnh hoành hành khắp nơi làm cho nền kinh tế thì sa sút, bầu không khí xã hội thì nặng nề, căng thẳng, cộng thêm việc bộ máy quản lý nhà nước của triều đình Lý tỏ ra quan liêu, lỏng lẻo trong việc quản lý xã hội, trải đều từ cấp Trung ương đến cấp địa phương đã khiến cho ở một số nơi các thế lực phong kiến đã tập hợp lực lượng đứng lên chống lại triều đình, kết quả tất yếu là sự cát cứ phân quyền và nội chiến. Nổi bật trong các thế lực cát cứ này có thể kể đến anh em họ Trần ở vùng Hải Ấp (Thái Bình).
Do anh em họ Trần đã từng giúp đỡ nhà Lý dẹp loạn và lập lại trật tự, nên được nhà Lý trọng dụng, đây cũng chính là khởi đầu cho việc thao túng binh quyền, xây dựng cho gia tộc mình một tập đoàn quân sự có sức mạnh lớn của họ Trần. Khi nắm giữ sức mạnh quân đội trong tay thì việc thâu tóm thế lực và thay đổi triều đại là chuyện sớm muộn. Nói về sự chiếm quyền của nhà Trần, thật sự đó có thể coi là một cuộc chuyển giao quyền lực “êm thắm” nhất trong suốt chiều dài lịch sử của Việt Nam, sự khôn khéo của nhà Trần nằm ở chỗ từ từ chậm rãi nắm từng phần quyền lực, “nấu” con ếch nhà Lý trong nồi nước, để đến khi nhà Lý nhận ra thì đã không có cách nào chuyển mình, sự chuyển giao diễn ra mà gần như không hề gây ra một sự xáo trộn nào lớn đối với xã hội. Dù thực chất, đến thời Lý Huệ Tông thì quyền lực đã gần như nằm trọn trong tay gia tộc nhà Trần, các vị trí quan trọng trong triều đình cũng là 15 do người trong gia tộc Trần đảm nhiệm.
Nhưng chỉ khi Lý Huệ Tông thoái vị nhường ngôi cho con gái là công chúa Chiêu Thánh vừa tròn bảy tuổi vào năm 1225 mới thực sự là dấu chấm hết cho vương triều nhà Lý. Trần Thủ Độ sắp xếp cho Lý Chiêu Hoàng kết hôn với Trần Cảnh. Vào cuối năm đó, tức ngày 12 tháng 12 năm 1225, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng, Trần Cảnh được nhượng vị, lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Kiến Trung, chính thức mở ra triều đại nhà Trần. Vì không có trải qua quá trình binh biến, nhà Trần sau khi lên ngôi đã không phải đối mặt với các tổn thất của chiến tranh.
Tuy nhiên, nhà Lý để lại cho nhà Trần một cục diện bất ổn về xã hội với tình trạng cát cứ khắp nơi. Nhà Trần sau khi lên ngôi ngay lập tức bắt tay vào việc ổn định tình hình xã hội và chăm lo phát triển toàn diện các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, giáo dục, quân sự… nhà Trần chú trọng phát triển toàn diện ở mọi mặt và có sự kế thừa phát huy những thành quả trước đó của nhà Lý. Trước hết đó chính là vấn đề thanh toán nạn cát cứ, thống nhất lại quốc gia, cuối thời Lý, đầu nhà Trần những năm 1926, huyện Đường Hào, huyện Hông Châu bị Đoàn Thượng vốn là người con của vú nuôi Lý Huệ Tông chiếm đóng lại kết hợp với thế lực phản loạn do Nguyễn Nộn đứng đầu. Thế lực phản loạn do Nộn đứng đầu từng cho quân từ Bắc Giang về đánh mạnh, giao tranh với quân Trần, khiến Trần Thủ Độ cũng phải e dè.
Về sau cùng với những biện pháp như liên hôn chính trị, hòa hoãn thuyết phục cộng với việc sức khỏe của Nộn không tốt do ăn chơi sa đọa nên thế lực này cũng dần tan mà không cần quá nhiều vũ lực. Đến năm 1229 thì thế lực cát cứ cuối cùng cũng bị tiêu diệt, đất nước lại thống nhất hoàn toàn. Cũng chính từ đây, nhà Trần rút kinh nghiệm, đẩy mạnh chế độ phong kiến tiến lên một bước, củng cố nhà nước trung ương tập quyền 16 Cơ sở kinh tế và sự phân hóa giai cấp thời kỳ nhà Trần Về kinh tế, vốn là một quốc gia nông nghiệp, thế nên cũng như thời Lý, các vua nhà Trần tập trung phát triển kinh tế lấy nông nghiệp làm trọng tâm. Điểm khác biệt giữa nhà Trần và nhà Lý - người tiền nhiệm của mình, chính là sự thay đổi trong vấn đề chế độ sở hữu ruộng đất, nhà Trần cùng với quyết sách ban thưởng ruộng đất cho quan lại, vương công quý tộc đã khiến cho hình thức sở hữu ruộng đất có 2 loại chính: một là, sở hữu nhà nước thông qua các công xã nông thôn; hai là, sở hữu tư nhân.
Là một triều đại phong kiến trung ương chuyên quyền, nên ruộng đất được thừa nhận là thuộc sở hữu của nhà nước, nhưng trong hình thức sở hữu của nhà nước lại phân ra thêm 2 loại, ngoài ruộng đất do nhà nước quản lý trực tiếp, được tính vào sở hữu của bản thân nhà nước và hoàng cung, hay đúng hơn là tài sản “tư hữu” của vua, tất cả hoa lợi thu được từ số ruộng đất này thuộc về vua, thì còn hình thức phổ biến hơn là các công xã nông thôn, tức đất công của thôn làng, lúc bấy giờ gọi là “quan điền bản xã”, về cơ bản thì hình thức này chính là nhà nước thông qua hệ thống quản lý chức sắc cho nông dân thuê đất của mình để canh tác và “ phí thuê” chính là thuế tính theo ruộng. Tuy nhiên, Năm 1254, triều đình thực hiện “bán ruộng đất công, mỗi một diện là 5 quan” đã xác nhận quyền sở hữu ruộng đất công làng lúc bấy giờ là thuộc về nhà nước. Về hình thức sở hữu tư nhân, gồm có: Thái ấp, điền trang của quý tộc nhà Trần, ruộng sở hữu của địa chủ và quý tộc nhà Trần, ruộng tư hữu của địa chủ và ruộng đất sở hữu của tiểu nông. Sự sở hữu tư nhân của các quan đối với ruộng đất là một nét riêng và khác biệt cơ bản về tổ chức bộ máy nhà nước của hai nhà Lý và Trần.
Thái ấp có thể xem như sự phát triển lên so với ruộng thác đao của thời nhà Lý, đây là hình thức tiêu biểu nhất cho chính sách ban cấp ruộng đất và bổng lộc của nhà Trần, nó cũng thể hiện sự ghi nhận của triều đình đối với người có công. Quy mô của thái ấp tương đối 17 nhỏ, khoảng 1, 2 xã (trừ trường hợp thái áp vô cùng rộng lớn của Nguyễn Khoái ở Khoái Lộ). Điểm tiến bộ hơn của thái ấp so với ruộng thác đao, đó chính là thái ấp sau khi được ban thì hoàn toàn thuộc về sở hữu tư nhân của cá nhân, tuy rằng không phải toàn bộ vùng đất thuộc Thái ấp đều trở thành sở hữu vĩnh viễn của người được phong, mà trong đó chỉ có một phần, phần còn lại vẫn thuộc sở hữu của nhà nước, người được phong có quyền hưởng dụng nhưng không có quyền sở hữu, theo đó cũng không có chế độ thừa kế thái ấp, hậu duệ của người được phong nếu không được hưởng quyền thế tập được nhà nước công nhận thì vẫn phải trả lại ruộng đất cho nhà nước, tuy vậy thì việc phế truất quyền thế tập cũng không xảy ra thường xuyên thế nên thái ấp vẫn có thể coi là một lãnh địa của quý tộc. Tại Thái ấp, ngoài việc phát triển kinh tế thì đây cũng là nơi tập trung, đào tạo và xây dựng các đơn vị quân sự tại địa phương, luôn luôn có thể sẵn sàng phối hợp với quân trung ương, từ đó dễ dàng thực hiện các kế sách một cách linh hoạt và nhanh chóng nhất khi đối mặt với ngoại xâm.
Đây chính là một chính sách kinh tế quan trọng nhằm tạo ra cơ sở xã hội cho nhà Trần, cơ sở này nằm ở hai điểm: thứ nhất thể hiện được sự quan tâm, hậu đãi của triều đình, củng cố thêm lòng trung thành cho quan lại, tạo tiền đề cho việc vua tôi đồng lòng vì việc nước; thứ hai, có thể đem chính quyền của nhà Trần phân bố rộng khắp, quản lý chặt chẽ cả đất nước chứ bộ máy không chỉ co cụm tại kinh thành. Ngoài Thái ấp thì điền trang là một điểm mới của nhà Trần, đây là kết quả của nhu cầu nhanh chóng mở rộng diện tích canh tác và thực hiện chủ trương xây dựng, cùng với mong muốn củng cố thêm thế lực quý tộc nhà Trần, vào năm 1266, nhà vua đã cho các vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập những người xiêu tán không có sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn đất hoang lập điền trang. Vương hầu có điền trang thực sự cũng từ đây. Nếu như nói Thái ấp là nơi ở bền vững của quý tộc và tông tộc dòng họ của mình thì điền trang là mảnh đất được sở hữu bởi địa chủ cùng sự lao 18 động của một nhóm nông nô.
Ngoài ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân của vua quan và quý tộc thì còn có một bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân của địa chủ và tiểu nông. Hai hình thức Thái ấp và điền trang tuy đã mang lại rất nhiều điểm sáng cho cả mục tiêu phát triển kinh tế và thắt chặt mối quan hệ vua tôi, tuy nhiên, nó cũng thể hiện rõ, nhà Trần là một triều đình phong kiến chuyên chế, nhưng lại không có tính trung ương tập quyền, quyền lực không tập trung triệt để trong tay vua mà phân tán trong quý tộc, các dòng tộc lớn, quan lại “là một hình thức tản quyền, thừa nhận chế độ chủ động, tự quản của từng khu vực lãnh thổ, qua đó có thể làm gia tăng sản xuất trong nước, tăng thêm sức mạnh cho nhà nước trung ương, góp phần tăng cường lực lượng quân sự, làm cho việc chống ngoại xâm thuận lợi hơn” (Nguyễn Văn Giới, 2020, trang 12). Mặc dù, trong chế độ phong kiến, việc phân quyền rất dễ dàng đưa đến nạn cát cứ xưng vương, tuy nhiên cùng với việc đưa ra các quy định thích hợp để cân bằng, không thể phủ nhận rằng bước đi này ngược lại đã giúp cho nhà Trần củng cố thêm mối quan hệ vua tôi và tăng sức mạnh toàn diện cho dân tộc, chí ít là nó đã góp phần giúp cho Đại Việt vững vàng vượt qua ba cuộc xâm lăng của quân Nguyên - Mông hùng mạnh. Khi nói về nông nghiệp, ngoài ruộng đất ra thì vấn đề không kém phần quan trọng, đó chính là trị thủy.