Chương 1 ĐIÊU KIỆN KHÁCH QUAN VÀ NHÂN TÓ CHỦ QUAN TAC DONG DEN SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC PHAN BOI CHAU 1. Điều kiện khách quan tác động đến sự hình thành tư tưởng yêu nước Phan Bội Châu 1. Tác động của tình hình thé giới và khu vực đến Việt Nam 1. Quá trình thực dân hóa phương Đông của chủ nghĩa dé quốc Au - Mỹ Tình hình thế giới cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX đã có những chuyên biến lớn, ảnh hưởng mạnh mẽ đến khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Ở phương Tây, sự xuất hiện động cơ hơi nước trở thành tiền đề quan trọng, mở ra cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai. Sự kiện này đánh dấu việc chuyên biến lớn, lịch sử nhân loại bước sang giai đoạn văn minh công nghiệp. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai đã tạo ra sự biến đồi sâu sắc về chất đối với sự phát triển các nền kinh tế mà đặc trưng cơ bản của nó là thay thế lao động thủ công bằng máy móc, sử dụng rộng rãi năng lượng than đá và áp dụng phương thức sản xuất mới. Kết quả tất yếu của những biến đổi ấy là chủ nghĩa tư bản phát triển ngày càng mạnh mẽ, năng suất lao động tăng vọt, cơ cấu giai cấp - xã hội đã chuyền dịch, chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do chuyên sang giai đoạn độc quyền (chủ nghĩa dé quốc).
Đến cuối thé ky XVIII, hầu hết các nước tư bản phương Tây đã đi vào nền nếp, chủ nghĩa tư bản trở thành hệ thống, trong đó, đi đầu trong sự phát triển là ba nước: Anh, Pháp và Mỹ. Sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở phương Tây làm cho nhu cầu về sức lao động, nguyên liệu dé sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ tăng lên nhanh chóng. Các nước lớn ở phương Tây đã chọn việc xâm lược các nước yếu hơn là giải pháp để giải quyết vẫn đề này. Các cuộc chiến tranh xâm lược được mở ra và ngày càng được đầy mạnh, trước hết là khu vực châu Phi, Trung Đông, sau đó mở rộng sang các nước châu Á vào đầu thế kỷ XIX.
Châu A có diện tích lớn nhất trên thé giới (chiếm 29,9% điện tích mặt dat), vị trí địa lý thuận lợi là nằm cạnh châu Âu, là nơi có nhiều tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản quý. Mặt khác, phần lớn các nước thuộc khu vực này vào cuối thé ky XVIII, đầu thế kỷ XIX vẫn duy trì hình thái xã hội quân chủ chuyên chế; nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tri trệ, khoa học kỹ thuật kém phát triển; nhiều nước chưa tiếp cận nền khoa học tiên tiến thời bấy giờ nên đã trở thành “miếng mdi béo bở” cho các nước phương Tây dòm ngó và xâu xé. Trên thực tế, các cuộc thăm dò, tìm kiếm thị trường tại khu vực châu Á đã được các nước phương Tây “để ý” từ lâu, trong đó chủ yếu là các nước thuộc khu vực châu Âu như: Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Các nước này đã sớm triển khai thực hiện mưu đồ mở rộng sang phương Đông từ thế kỷ XVI, song quy mô nhỏ, chủ yếu là dé nghiên cứu tình hình chính trị, kinh tẾ, xã hội, tiếp cận văn hóa phương Đông thông qua con đường truyền đạo và mở rộng thị trường, trao đôi hàng hóa.
Song, đến đầu thế kỷ XIX, đứng trước những nhu cầu lớn về mở rộng thị trường, sản xuất, các nước này gấp rút tién hành các hoạt động xâm lược thuộc địa quy mô lớn và thực hiện công việc “khai thác” triệt dé phuc vu cho chinh quéc va đàn áp sự phản khang của các nước thuộc địa quyết liệt hơn. Tinh đến nửa cuối thé kỷ XIX, bản đồ thuộc địa của các nước phương Tây đã bao phủ hầu hết các khu vực trên thé giới. Tính đến cuối thế kỷ XIX, trước xu hướng tăng cường xâm lược của các nước phương Tây nhằm mở rộng thị trường và tìm kiếm nguồn tài nguyên dé phát triển nền kinh tế ở chính quốc, hầu hết các vùng lãnh thổ trên thế giới đều trở thành thuộc địa. Khu vực châu Á cũng không nằm ngoại lệ, chỉ riêng Nhật Bản và một số nước, do vận dụng những chính sách kinh tế, chính trị, ngoại giao hợp lý nên đã có những bước phát triển vượt bậc, tránh được mối họa trở thành thuộc địa của các nước phương Tây và trở thành hình mẫu để các nước phương Đông học tập, noi theo.
Trong bối cảnh tình hình như vậy, các nước thuộc địa có những cách thức, phản ứng và giải quyết vấn đề này rất khác nhau. Phản ứng của các nước châu A trước sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân Sự phát triển vượt bậc của khoa học và công nghệ đã đem đến những thay đổi căn bản, toàn điện đối với các nước phương Tây. Các cuộc cách mạng tu sản đã diễn ra, xóa bỏ quyền lực của chế độ phong kiến, xác lập chế độ tư bản chủ nghĩa, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử phát triển của nhân loại. Với khối lượng của cải vật chất không lồ được tạo ra từ phương thức sản xuất mới, đặc biệt nhờ hệ thống máy móc và lực lượng sản xuất có trình độ, kiến thức tiên tiễn, các nước tư bản phương Tây muốn mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa dé kiếm lời, tăng thêm lợi nhuận.
Đồng thời, mở rộng nguồn cung cấp nguyên liệu phục vụ sự phát triển nền công nghiệp chính quốc. Trái ngược với phương Tây, phương Đông lúc này vẫn đang duy trì nền chính trị quân chủ chuyên chế, kinh tế nông nghiệp kém phát triển, phương thức sản xuất nông nghiệp lạc hậu, manh mún, khép kín. Đồng thời, châu Á được hiện lên trong trí tưởng tượng của những thương nhân, quý tộc phương Tây, thông qua ghi chép của họ qua các đợt thăm dò, phát kiến địa lý trước đây: châu Á là nơi có nhiều vàng bạc, hương liệu, giàu có, huyền bí và quyến rũ. Trên thực tế, việc tìm ra con đường giao thương giữa phương Tây và phương Đông như “Con đường tơ lụa” đã đem lại một lượng tiền vàng lớn, nguyên liệu, hương liệu và nô lệ - lực lượng sản xuất chính cho các nước phương Tây.
Trước những cái lợi to lớn ấy, quá trình bành trướng của các nước phương Tây sang các nước phương Đông được bắt đầu. Đối với các nước phương Đông, mặc dù họ bị “mê hoặc”, bị thuyết phục, chinh phục và tiêu tốn ngày càng nhiều tiền của để mua sắm những hàng hóa mới lạ và hấp dẫn đến từ các nước phương Tây nhưng các nước phương Đông cũng sớm nhận ra rang, ho dang dan dan trở thành “con môi béo bở” cho quá trình banh trướng, chiếm đoạt của các nước phương Tây thông qua các hoạt động của các nhà buôn và các phái đoàn truyền giáo. Đứng trước thách thức ay, các quốc gia phương Đông có hai phương án để lựa chọn: thứ nhất, tiếp tục duy trì chế độ phong kiến trì trệ, bảo thủ, ngăn chặn sự ảnh hưởng của các nước phương Tây; thứ hai, tiễn hành II cải cách, đổi mới dé phát triển, tăng cường khả năng phòng thủ của đất nước trước các nguy cơ bị thôn tính các nước phương Tây. Các nước lựa chọn phương án thứ nhất đó là Trung Quốc, Việt Nam.
Tại Trung Quốc, trước thé ky XVII, dòng chảy tiền tệ thông qua ngoại thương chỉ có một chiều, đó là từ các nước phương Tây vào Trung Quốc do nhu cầu về chè, lụa, đồ sứ,. có lúc nhu cầu tăng cao nhưng Trung Quốc vẫn đóng cửa giao thương với nước ngoài. Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, việc công ty Đông An Anh vận chuyền thuốc phiện đến bờ biển Trung Quốc dé bán cho thương lái và thương lái dùng nó dé bán lẻ trong nước, thì việc giao lưu của Trung Quốc với các nước cởi mở hơn. Do thuốc phiện là chất gây nghiện nên số lượng người bị nghiện và nhu cầu thuốc phiện ngày càng gia tăng, khiến dòng chảy tiện tệ ngày càng “xoay chiều”.
Vì lý do ấy, chính quyền Trung Quốc đã quyết định bãi bỏ việc buôn bán thuốc phiện, đóng cửa giao thương với Anh, tịch thu khoảng 20.000 két thuốc phiện mà không bồi thường, hạn chế quyền tự do của thương lái nước ngoài. Điều này đã gây mâu thuẫn sâu sắc giữa Trung Quốc và thực dân Anh, từ đó dẫn đến cuộc chiến tranh Nha phiến năm 1839, làm kinh động cả khu vực vốn chịu ảnh hưởng của nền văn minh Hoa Hạ (Trung Quốc). Đối với Việt Nam, ngay từ khi thiết lập triều Nguyễn, vua Gia Long, mặc dù có được sự giúp đỡ của Bá Da Lộc (nguyên tên là Pierre Joseph Georges Pigneau de Behaine, thường viết là Pigneau de Behaine) - một giáo sĩ người Pháp, trong việc cầu viện Pháp để giành lại ngôi vua, nhưng ông hết sức dé dat trong việc thiết lập mối quan hệ với nước Pháp nói riêng và các nước phương Tây nói chung. Khi Gia Long cầu cứu nước Pháp, ông đã mục kích được dã tâm đen tối của các nước dé quốc phương Tây trước và trong thời của ông, nhưng ông vẫn không thể tìm được một kế sách hay để giữ nước, chỉ biết bế quan tỏa cảng.
Đến đời vua Minh Mạng, ông tiếp tục giữ vững quan điểm giống đời trước, coi người Tây phương là bọn man di, là quan xâm lược. Việc bế quan tỏa cảng nghiêm ngặt đến mức vua Minh Mạng khước từ tất cả việc giao thiệp với nước ngoài, kế cả các công việc giao thiệp nhằm mục đích thương mại. Đồng thời, để tránh sự tuyên truyền tư tưởng phương Tây, ông cản trở sự phát triển của Công giáo. Các hành động mạnh tay của vua Minh 12 Mạng nhằm mục đích tránh khỏi sự can thiệp, ảnh hưởng của phương Tây đến nền chính trị Việt Nam khi mà mưu đồ banh trướng của họ ngày càng bộc lộ rõ rệt.
Tuy nhiên, sự sụp đồ của nhà nước Trung Hoa, theo một sé người, đó là nha nước kiều mẫu của Việt Nam lúc bấy giờ, trước thực dân Anh nói riêng, phương Tây nói chung trong cuộc chiến tranh Nha phiến 1839 - 1842 đã làm cho tình hình Việt Nam trở nên căng thăng hơn. Ý đồ của phương Tây ngày rõ ràng và sự sụp đồ của một dé chế hùng mạnh trong khu vực khiến tat cả các nước xung quanh trở nên cảnh giác cao độ với phương Tây, trong đó có sự cảnh giác của Việt Nam. Mặc dù đã biết được sức mạnh của phương Tây nhưng nhìn chung, vua Minh Mạng không thay đôi lập trường ngoại giao với phương Tây mà chi tập trung đề phòng, cảnh giác hơn.