mở đầu sách Sáng thế ghi: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất” (St 1,1), [38, tr. Cũng có chỗ, Thiên Chúa đứng ở ngôi thứ nhất mà phán: “Đây Ta ban cho các ngươi mọi thứ cỏ mang hạt giống trên khắp mặt đất, và mọi thứ cây có trái mang hạt giống, để làm lương thực cho các ngươi” (St 1,29), [38, tr. Do đó, tín đồ Do-thái giáo và Ki-tô giáo tin rằng, chính Thiên Chúa đã mạc khải về lề luật, đạo đức cùng những lẽ khôn ngoan cho loài người. Vì vậy, các kinh sách chép những lời ấy, kể cả các sách không có lời Chúa tự xưng nhưng có lời dạy về đạo đức, khôn ngoan của các ngôn sứ đều được coi là Lời Chúa, tức Kinh thánh.
Tuy nhiên, Lời Chúa lại được lồng vào trong những sách truyện ký, lịch sử, ngụ ngôn, thi phú,… tùy theo hoàn cảnh xã hội, cho nên không phải tất cả mọi sách được gọi là Kinh thánh đều là “thánh thiện” cả [76, tr. Tóm lại, Kinh thánh theo quan niệm Ki-tô giáo là sự mạc khải của Thiên Chúa đối với loài người, được các ngôn sứ ghi lại, là sự thiêng liêng, dạy dỗ của Thiên Chúa đối với con người, là nền tảng giáo lý và soi dẫn đức tin. Nói cách khác, Kinh thánh là bộ sách do Thiên Chúa linh ứng mạc khải cho các ngôn sứ ghi lại cho con người biết về bản thân Thiên Chúa và ý định của Người đối với họ, được Ki-tô giáo thừa nhận trở thành nền tảng của giáo lý đức tin để dẫn dắt Nguyễn Công oánh 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ tôn giáo học tín hữu sống đạo. Theo thần học Ki-tô giáo, Chúa Thánh Thần (hay Thánh Linh - Ngôi Ba) mới là tác giả chính thức của Kinh thánh, còn các tác giả con người chỉ là tác giả phụ thuộc.
Khi con người làm công cụ sáng tác, Thiên Chúa đã linh ứng cho họ, sử dụng họ phù hợp với bản chất và tự nhiên tính của họ, cũng như không xâm phạm đến tự do của họ khi họ làm việc. Với quyền năng siêu nhiên của mình, Thiên Chúa đã linh ứng và thúc đẩy họ viết đúng với những điều Thiên Chúa truyền dạy một cách trung thực bằng những ngôn ngữ phù hợp với văn cảnh, và không thể sai lầm. Mạc khải (hay mặc khải) theo quan niệm thần học Ki-tô giáo, đó là sự vén mở bức màn bí mật về ý định của Thiên Chúa soi sáng cho các ngôn sứ thấy được chân lý, đạo lý, lề luật và tương lai để truyền đến cho nhân loại. Ngày nay, khoa phân tâm học cho rằng, mặc khải là hiện tượng trong đó tâm thức con người tiếp cận với thế giới siêu nhiên, hoặc từ thế giới siêu nhiên, Thượng Đế gửi các thông điệp đến cho con người qua cửa ngõ là đáy các miền tâm thức.
Ngôn sứ là người được Chúa sai đến để thay mặt Chúa truyền giảng lời Chúa đến với dân. Tín đồ Do-thái giáo và Ki-tô giáo đều tin vào lời tiên tri ấy, vì họ cho rằng “Đức Chúa Trời đã đặt lời Ngài vào môi miệng các vị ấy” [52, tr. Sứ mạng của họ là làm cho dân chúng nhận thấy lỗi lầm của mình, kêu gọi họ trung thành với giao ước, răn đe, khuyên bảo, loan báo hình phạt và ơn cứu độ. Kinh Khánh, theo tiếng Hy-lạp, có nghĩa là "các Sách Thánh", gồm nhiều cuốn sách chứ không phải một cuốn sách, mỗi cuốn có tên gọi và đặc thù riêng.
Để phân biệt giữa Do-thái giáo và Ki-tô giáo, sách Kinh thánh được phân chia thành hai bộ: Cựu ước và Tân ước. Dần dần, hai bộ sách này được dùng với số ít, đồng nghĩa với Kinh Thánh hay Thánh kinh. Về mặt thời gian, Cựu ước chỉ thời kỳ TCN, còn Tân ước chỉ thời kỳ sau Công nguyên (SCN) - thời kỳ từ khi Chúa Giê-su Ki-tô ra đời. Giao ước, chữ "ước" trong Cựu ước và Tân ước ám chỉ hai nội dung giao ước mà Thiên Chúa đã ký với loài người trong mỗi giai đoạn lịch sử.
Cả hai tên gọi Cựu ước và Tân ước đều gắn liền với tư tưởng trung tâm của Kinh thánh – Nguyễn Công oánh 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ tôn giáo học tư tưởng “di huấn”, có nguồn gốc từ tiếng Do-thái là “breit”, tiếng La-tinh là “testamentum”, tức lời giao ước về lòng chung thuỷ, sự liên minh mà Chúa ký kết với loài người. Cựu ước là lời giao ước cũ của Thiên Chúa với người Do-thái (dân Chúa chọn), qua đại diện của họ là tổ phụ Nô-ê, áp-ra-ham và Mô-sê cùng các tiên tri khác. Đó là diễn trình lịch sử của dân tộc Do-thái, trong đó Thiên Chúa đã mấy lần giao ước với dân Do-thái. Lần thứ nhất, Thiên Chúa giao ước với ông Nô-ê công chính trước nạn Hồng Thủy.
Lần thứ hai, Thiên Chúa giao ước với tổ phụ áp-ra-ham, nhận ông là thủy tổ của các dân tộc và là dân của Chúa. Lần thứ ba, Thiên Chúa giao ước với loài người qua Mô-sê trên núi Xi-nai bằng việc ban cho họ Mười điều răn. Lời giao ước đó nhằm dẫn dắt họ thoát khỏi Ai-cập trở về vùng Đất hứa (đất của người Ca-na-an, Khết, E-mô-ri, Pơ-rít-di, Khi-vi và Giơ- vút), về lòng chung thuỷ của Chúa với dân được Chúa chọn. Về sau, Thiên Chúa còn có giao ước với các nhà tiên tri khác của người Do-thái.
Nhà tiên tri Giê-rê- mi-a (sống ở thế kỷ thứ VII TCN) là người đầu tiên sử dụng từ “tân ước” để nói về quan hệ giữa con người với Chúa: “Ta sẽ lập với nhà ít-ra-en và nhà Giu-đa một giao ước mới, không giống như giao ước Ta đã lập với cha ông chúng,… Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta” (Gr 31,31-34), [38, tr. Nhưng lời giao ước này vẫn là lời giao ước cũ, nó chỉ nói tới với lời giao ước mà Thiên Chúa đã ký với tổ phụ áp-ra-ham và Mô- sê, chứ không phải là thuật ngữ hoàn toàn mới như giao ước của Chúa với nhân loại qua trung gian Đức Giê-su Ki-tô sau này. Người đầu tiên dùng từ Cựu ước để gọi về sách “Lề Luật và các tiên tri” của Do-thái giáo là thánh Tông Đồ Phao-lô. Trong thư gửi tín hữu Cô-rin-tô (Hy-lạp) vào khoảng năm 49-50 SCN, ông viết: “Chúng ta không làm như ông Mô-sê lấy màn che để dân ít-ra-en khỏi thấy khi nào cái chóng qua kia chấm dứt.
Nhưng trí họ đã ra mê muội. Thật vậy, cho đến ngày nay, khi họ đọc Cựu Ước, tấm màn ấy vẫn còn, chưa được vén lên, vì chỉ trong Đức Ki-tô, tấm màn ấy mới được vứt bỏ” (2 Cr 3,13-14), [38, tr. Nguyễn Công oánh 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ tôn giáo học Tân Ước là lời giao ước mới giữa Thiên Chúa với nhân loại, qua Đấng trung gian Giê-su Ki-tô - một nhân vật lịch sử mang thiên tính, trở thành Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể làm người, vừa là Chúa thật vừa là người thật. Sứ vụ của Đức Ki-tô là làm cho mọi người biết họ là con Thiên Chúa mà trước đây họ không nhận ra điều đó.
Tất cả các văn bản của Tân Ước đều quy chiếu về Chúa Giê-su là tâm điểm. Vào cuối thế kỷ thứ II SCN, nhà thần học Téc-tu-leng (160- 230), là người đầu tiên dùng thuật ngữ Tân Ước để chỉ về giao ước mới nhằm phân biệt với Cựu Ước [91, tr. Nguồn gốc và sự hình thành Kinh Thánh Theo giáo sử thì cả hai phần Cựu Ước và Tân Ước đều sinh ra từ vùng đất Ca-na-an (nay là ít-ra-en và Pa-lét-tin), một vùng đất được coi là “cái eo” của Trung Đông, nơi tiếp giáp giữa châu á, châu Âu và châu Phi. Phía Bắc vùng đất này có dãy núi Hê-môn cao 2.800 mét và là mỏm cuối cùng của dãy núi Li- băng; phía Nam là sa mạc bắt đầu từ ngang biển Chết; phía Tây giáp Địa Trung Hải và phía Đông giáp sa mạc Xi-ry.
Đây là nơi luôn diễn ra sự tranh chấp quyết liệt giữa người Do-thái với các quốc gia dân tộc khác cũng như quá trình giao lưu tiếp biến giữa văn hóa của người Do-thái với các nền văn minh Ai-cập, Lưỡng Hà và Hy La để tạo nên đặc điểm nổi bật của Kinh thánh. Cựu Ước Theo các nhà Thánh Kinh học, Cựu Ước được bắt đầu sưu tập từ thời gian thế kỷ XIII đến thế kỷ II TCN. Đó là bộ sách viết về Thiên Chúa, về công cuộc tạo dựng vũ trụ, vạn vật và con người của Ngài; về sự sa ngã của con người dẫn đến tội tổ tông truyền; về sự tích dân Do-thái cùng luật pháp, phong tục của họ; về các vua của dân Do-thái từ khi lập quốc đến khi tan rã, và Chúa Giê-su Ki-tô xuất hiện. Cựu Ước thực chất là bộ dã sử của dân tộc Do-thái.
Nhà nước của người Do- thái là một trong những nhà nước ra đời khá sớm ở vùng Trung Cận Đông. Theo Kinh Thánh cũng như các công trình nghiên cứu về Kinh Thánh, các cụm từ dân Híp-ri, dân ít-ra-en, dân Do-thái đều dùng để chỉ một dân tộc đã sinh ra Kinh Nguyễn Công oánh 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ tôn giáo học Thánh với các tổ phụ áp-ra-ham, I-xa-ác, Gia-cóp. Theo sách Sáng thế, danh từ ít-ra-en là tên gọi mà Thiên Chúa đặt cho tổ phụ Gia-cóp (St 35,10), [38, tr.88], một tên gọi có tính chất thánh thiêng của một dân tộc có chung một nguồn gốc tổ tiên được người Ai-cập gọi là Híp-ri. Theo sách Xuất hành, dân tộc đó có 12 chi tộc mang tên 12 người con trai của Gia-cóp.
Theo Cựu Ước, chỉ dân ít-ra-en mới được Thiên Chúa chọn để thực hiện ý định của Người, và vì vậy, được gọi là dân Chúa [24, tr. Còn danh từ Do-thái xuất hiện vào thời Tân Ước và có tính chất tôn giáo hơn là chủng tộc. Ban đầu, Do-thái là danh từ để chỉ các tín đồ đã chịu phép “cắt bì” theo luật Mô-sê nhằm phân biệt với dân ngoại, và được coi là một tước hiệu danh dự, như thánh Phao-lô tự hào: “Chúng ta bẩm sinh là người Do-thái chứ không phải hạng người tội lỗi xuất thân từ dân ngoại” (Gl 2,15), [38, tr. Về sau, khi Chúa Giê-su đi giảng đạo, danh từ Do-thái được dùng để chỉ những người không chấp nhận đức tin của Chúa Ki-tô mà chỉ giữ luật Mô-sê (Rm 2.
Sau khi Ki-tô giáo ra đời, danh từ này dùng để chỉ đạo Do-thái – tôn giáo của người ít-ra-en mà giáo lý chỉ dựa vào Cựu Ước [90, tr. Ban đầu, người dân Do-thái sống du mục với nhiều bộ tộc, khác với lối sống định cư của người Ai-cập bên bờ sông Nin, và người Lưỡng Hà bên bờ sông Ê- phơ-rát và sông Tích-ra.