CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT 1. Nguồn gốc lý luận tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết 1. Giá trị đoàn kết dân tộc Với lịch sử dựng nước và giữ nước hết sức đặc biệt, dân tộc Việt Nam đã xây dựng nên tinh thần đoàn kết bền chặt, cố kết cộng đồng sâu sắc trong suốt chiều dài lịch sử, trở thành một trong những giá trị tinh thần truyền thống tốt đẹp, một trong những động lực, sức mạnh to lớn giúp nhân dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách. Nền kinh tế của nước ta trước đây chủ yếu là tự cung, tự cấp, dựa vào thiên nhiên.
Làng, bản, thôn, xóm trong truyền thống tổ chức xã hội Việt Nam nhìn chung mang tính chất khép kín. Tuy nhiên, tùy vào điều kiện cụ thể của mỗi vùng, mỗi địa phương mà sự giao lưu về kinh tế, giao thoa về văn hóa vẫn diễn ra. Việc trao đổi, mua bán các sản phẩm được sản xuất ra ở mỗi vùng, mỗi địa phương đã tạo nên sự gắn chặt nhân dân mọi miền đất nước lại với nhau. Những tục “kết bạn” không những chỉ thực hiện giữa các công xã trong từng vùng mà giữa các công xã khác vùng và khác thành phần dân tộc.
Đây là cơ sở kinh tế - xã hội để tạo dựng nên sự cố kết cộng đồng, tinh thần hợp tác, đoàn kết trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt xã hội. Điều kiện thiên nhiên buộc con người muốn tồn tại phải hiệp sức lại với nhau, giữa những người trong vùng, giữa những vùng khác nhau trong cả nước và ý thức sớm liên kết thành một cộng đồng dân tộc thống nhất, phải tựa lưng nhau mà sống đã được hình thành. Chính yêu cầu phải hợp sức, hợp lực trong sản xuất, trong đấu tranh với thiên nhiên từ năm này qua năm khác, đời này qua đời khác, là nhân tố cơ bản đầu tiên tạo nên ý thức thống nhất dân tộc, thống nhất quốc gia. Giá trị truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam được hình thành, củng cố, thử thách trước sự đe doạ thường xuyên của giặc ngoại xâm do những thế lực phong kiến và những thế lực thực dân, đế quốc gây ra.
Do có vị trí địa lý thuận lợi cho giao thông, tài nguyên thiên nhiên phong phú, cho nên, Việt Nam trong tất cả các thời kỳ lịch sử là đối tượng của những đội quân xâm lược hùng mạnh hơn mình gấp nhiều lần 11 Luan van và cực kỳ tàn bạo. Trong bối cảnh đó, các thành phần dân cư khác nhau đã tự nguyện đoàn kết để bảo vệ sự sống còn của bản thân mình, bảo vệ quê hương, làng xóm và hình thành nên một sức mạnh hết sức to lớn. Ngày nay, phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc là một chiến lược phát triển lâu dài, một động lực mạnh mẽ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.
Thành công, thành công, đại thành công”. Suốt cả cuộc đời Hồ Chí Minh, Người luôn quan tâm tới vấn đề đoàn kết, không chỉ đoàn kết trong Đảng, đoàn kết dân tộc, mà còn đoàn kết quốc tế. Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, giáo dục tinh thần đoàn kết cho sinh viên Việt Nam, trước hết là giáo dục cho sinh viên ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân- gia đình - làng xã - Tổ quốc. Đây là cơ sở góp phần hình thành ở sinh viên những phẩm chất nhân cách cần thiết, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quá trình học tập, rèn luyện ở bậc đại học, cao đẳng không chỉ là quá trình giáo dục, đào tạo cho sinh viên có phẩm chất đạo đức, năng lực tham gia vào quá trình sản xuất của xã hội, mà còn chuẩn bị cho họ khả năng bước vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như: chính trị, văn hoá, gia đình, giao tiếp, giải trí. Sinh viên có thể xứng đáng là người kế tục sự nghiệp của các thế hệ đi trước và là người chủ tương lai của nước nhà, của dân tộc, đòi hỏi sinh viên phải được giáo dục ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc với tinh thần phục vụ nhân dân, nêu cao chủ nghĩa tập thể. Giáo dục tinh thần phục vụ nhân dân cho sinh viên là: chúng ta giáo dục trách nhiệm của sinh viên trước cộng đồng, trước mọi người, với tinh thần tình nguyện. Hình ảnh những sinh viên tình nguyện toả về mọi miền đất nước, về với nhân dân “cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với nhân dân”.
Nó có sức lan tỏa hết sức to lớn trong cộng đồng xã hội, đồng thời cũng tác động trở lại định hướng giá trị, lối sống của sinh viên: sống vì mọi người, vì cộng đồng, vì sự phát triển xã hội. Đại bộ phận sinh viên hiện nay đã không lãnh đạm, thờ ơ với cuộc sống, ngược lại họ sẵn sàng cống hiến, hy sinh lợi ích cá nhân vì cộng động và đất nước. Bên cạnh những sinh viên tích cực, vẫn còn một bộ phận sinh viên chưa sẵn sàng tham gia vào các hoạt động vì cuộc sống cộng đồng, họ xa rời tập thể. Chính vì vậy, 12 Luan van cần phải giáo dục cho sinh viên tinh thần vì dân mà phục vụ, đến với nhân dân là đến với trường học thứ hai của mình.
Đây chính là quá trình học đi đôi với hành, trên giảng đường là học kiến thức khoa học, đến với nhân dân là vận dụng kiến thức đó để giải quyết mọi vấn đề. Phục vụ nhân dân với tinh thần tự giác, trách nhiệm, được xem như là phẩm chất đạo đức của sinh viên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay. Hợp tác và cạnh tranh, hội nhập và phát triển đang là xu thế chung của thế giới hiện đại. Vì vậy, sự quan tâm giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau là một yêu cầu tất yếu đối với mọi người, trong đó có tầng lớp sinh viên.
Giáo dục cho sinh viên tất cả vì cộng đồng: là sự tự giác của cá nhân vì lý tưởng cao quý của con người. Nó biểu hiện bằng sự thống nhất của tình bạn, tình đồng chí, tình đồng nghiệp, tinh thần trách nhiệm, thái độ tôn trọng và chăm sóc lẫn nhau nhằm đảm bảo cho các cá nhân phát triển cao nhất, phục vụ cho lợi ích xã hội. Quan niệm của C.Ăngghen, Lênin về đoàn kết Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ lần thứ nhất cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII đã chính thức đưa thế giới bước vào thời kỳ tư bản chủ nghĩa. Lúc này, chế độ phong kiến với những lãnh địa cát cứ vốn là đặc trưng của các quốc gia thời Trung cổ không còn phù hợp để tồn tại nữa.
Chủ nghĩa tư bản ra đời trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá đã khiến cho nền kinh tế tự cấp, tự túc bị xoá bỏ, thị trường có tính chất địa phương nhỏ hẹp, khép kín được mở rộng thành thị trường dân tộc. Cùng với quá trình đó, sự phát triển đến mức độ chín muồi của các nhân tố ý thức, văn hoá, ngôn ngữ, sự ổn định của lãnh thổ chung đã làm cho các quốc gia dân tộc xuất hiện. Bằng những tài liệu khảo cổ học của Moocgan, Mác - Ăngghen đã nghiên cứu xã hội cổ đại cũng như chỉ ra tiến trình hình thành của các dân tộc nói chung. Đối với các ông, dân tộc là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người.
Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc. Nếu như trong cộng đồng thị tộc (trong xã hội nguyên thuỷ), quan hệ huyết thống còn đóng vai trò chi phối tuyệt đối, thì ở cộng đồng bộ lạc và liên minh bộ lạc (xuất hiện vào cuối xã hội nguyên thuỷ), những quan hệ tộc người xen với những quan hệ chính trị - xã hội. Khi xã hội bước vào thời kỳ có sự phân chia rõ rệt hơn về giai cấp và kế đó là sự xuất hiện của nhà 13 Luan van nước thì cộng đồng bộ tộc ra đời. Ở cộng đồng bộ tộc có sự gắn bó chặt chẽ giữa sự cố kết bộ tộc với sự hình thành, củng cố quốc gia.
Đến khi dân tộc ra đời thì mối quan hệ giữa dân tộc và quốc gia đã chuyển lên một hình thức cao hơn. Thông thường, những nhân tố hình thành dân tộc chín muồi không tách rời với sự chín muồi của những nhân tố hình thành quốc gia - chúng bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau. Từ việc luận giải một cách khoa học vấn đề dân tộc, Mác - Ăngghen đã chỉ ra mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc, từ đó nêu lên những tư tưởng về đoàn kết dân tộc trong việc tập hợp lực lượng cách mạng để thực hiện mục tiêu xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa và xây dựng thành công xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Trước hết, Mác - Ăngghen cho rằng chỉ có dựa trên lập trường của giai cấp công nhân, vấn đề dân tộc và các quan hệ dân tộc mới được giải quyết đúng đắn.
Bởi vì xét về nguồn gốc thì “Các dân tộc hiện nay cũng là sản phẩm của những giai cấp bị áp bức” [21, tr. Ăngghen nói: “Không một dân tộc nào có thể trở thành tự do trong khi còn tiếp tục áp bức những dân tộc khác” [21, tr. Vì thế, giải quyết vấn đề giai cấp gắn bó chặt chẽ với vấn đề dân tộc trong công cuộc thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa, Mác và Ăngghen từng nêu luận điểm nổi tiếng trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản (năm 1848): “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ” [21, tr.4] và “Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo” [21, tr. Do đó, các ông đã khẳng định đoàn kết giữa giai cấp vô sản và những giai tầng bị áp bức, bị bóc lột là tất yếu để tập hợp lực lượng cách mạng trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản và các thế lực áp bức, bóc lột.