Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Biểu hiện thấu cảm của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh" do sinh viên Nguyễn Hải Uyên thực hiện năm 2019 dưới sự hướng dẫn của ThS. Phan Minh Phương Thùy tại Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Đề tài xuất phát từ quan điểm bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội (C. Mác) và sự cần thiết của việc tương tác, nhận biết cảm xúc giữa các cá nhân trong đời sống hiện đại. Tác giả dẫn nhận định của triết gia Roman Krznaric về vai trò cải cách xã hội của sự thấu cảm, đồng thời đặt vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 khi chỉ số trí tuệ cảm xúc (EQ) ngày càng được quan tâm. Thực tiễn xã hội cũng ghi nhận hiện tượng "vô cảm" và lối sống xa rời cộng đồng gia tăng ở người trẻ theo phân tích của Nguyễn Hồi Loan. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận thấu cảm như một thành tố phụ trong trí tuệ cảm xúc hoặc trí tuệ xã hội chứ chưa xem xét thấu cảm như một hiện tượng tâm lý độc lập ở lứa tuổi sinh viên.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu biểu hiện thấu cảm của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh qua hai mặt: thấu cảm cảm xúc và thấu cảm nhận thức; từ đó bước đầu đề xuất các giải pháp phát triển năng lực này.
Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành 2 nhóm:
- Nghiên cứu lý luận: Tìm hiểu lịch sử nghiên cứu thấu cảm trong và ngoài nước; hệ thống hóa cơ sở lý luận về thấu cảm, biểu hiện thấu cảm và đặc điểm biểu hiện thấu cảm của sinh viên.
- Nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát thực trạng biểu hiện thấu cảm của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, phân tích các biến số nhân khẩu học và đề xuất giải pháp thực tiễn.
Đối tượng nghiên cứu là biểu hiện thấu cảm của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Khách thể nghiên cứu là sinh viên đang theo học tại trường. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở 2 mặt biểu hiện (cảm xúc và nhận thức), với mẫu định lượng gồm 338 sinh viên (thu về và xử lý được 299 phiếu hợp lệ), kết hợp phỏng vấn sâu 6 sinh viên và 5 đội trưởng các đội hình tình nguyện trực thuộc trường. Giả thuyết nghiên cứu đặt ra là: mức độ biểu hiện thấu cảm của sinh viên đạt trên trung bình; đồng thời có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo giới tính, khối ngành và năm học.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài xây dựng trên sự tích hợp giữa hai xu hướng nghiên cứu thấu cảm trên thế giới: hướng tiếp cận xem thấu cảm là phản ứng ảnh hưởng cảm xúc (Eisenberg & Miller, 1987; Batson, 1991) và hướng tiếp cận xem thấu cảm là năng lực nhận thức xã hội (Lawrence và cộng sự, 2004; Karl Albrecht, 2006). Tác giả định nghĩa: "Thấu cảm là sự chia sẻ và thấu hiểu cảm xúc với những người xung quanh", kế thừa cấu trúc hai thành tố (thấu cảm cảm xúc và thấu cảm nhận thức) từ Baron-Cohen & Wheelwright (2004) cùng Thang đo thấu cảm cơ bản (The Basic Empathy Scale - BES) của Darrick Jolliffe & David P. Farrington. Đề tài khảo sát 4 cảm xúc cơ bản theo Mô hình bánh xe cảm xúc của Robert Plutchik (gồm: vui, buồn, sợ hãi, giận dữ) phân chia theo 3 cấp độ cường độ (nhẹ, trung bình, mạnh). Bên cạnh đó, tác giả sử dụng hệ thống lý luận tâm lý học lứa tuổi thanh niên sinh viên của B. Ananhev, Vũ Thị Nho, Dương Thị Diệu Hoa và Trương Thị Khánh Hà để giải thích các đặc điểm hoạt động học tập, giao tiếp và tự ý thức của khách thể.
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu khoa học chuyên ngành.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thang đo gồm 3 phần: Phần A gồm 32 câu tự đánh giá (thang đo Likert 5 mức độ từ 1 = Không bao giờ đến 5 = Rất thường xuyên); Phần B gồm 42 câu hỏi tình huống qua 4 kịch bản tương ứng với 4 loại cảm xúc (thang đo 3 mức độ từ 1 = Không phù hợp đến 3 = Phù hợp); Phần C thu thập thông tin nhân khẩu học và quá trình hoạt động tình nguyện (quy đổi theo Hướng dẫn số 08-HDLT/ĐTN-HSV của Đoàn - Hội trường ĐHSP TP.HCM). Bảng hỏi cài đặt 5 câu hỏi kiểm chứng độ tin cậy; nếu sinh viên có điểm trung bình các câu này từ 3,4 trở lên sẽ bị loại phiếu.
- Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng bảng câu hỏi mở (3-4 câu) phỏng vấn bán cấu trúc 6 sinh viên và 5 cán bộ Đoàn - Hội/chỉ huy chiến dịch tình nguyện (Xuân tình nguyện, Mùa hè xanh...).
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS với các phép kiểm định: thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình, độ lệch chuẩn), hệ số tương quan Pearson, kiểm nghiệm Independent Samples T-test và One-way ANOVA. Kiểm định độ tin cậy thang đo đạt hệ số Cronbach's Alpha toàn thang là 0,796 (thang tự đánh giá đạt 0,768; thang tình huống đạt 0,648).
Mẫu nghiên cứu gồm 299 phiếu hợp lệ sau khi loại bỏ 12 phiếu sai quy cách và 27 phiếu không đạt yêu cầu kiểm chứng độ tin cậy:
| Tiêu chí phân loại |
Phân nhóm |
Số lượng (n) |
Tỷ lệ (%) |
| Giới tính |
Nam |
121 |
40,5 |
|
Nữ |
178 |
59,5 |
| Hệ đào tạo |
Sư phạm |
142 |
47,5 |
|
Ngoài sư phạm |
157 |
52,5 |
| Năm học |
Năm 1 |
76 |
25,4 |
|
Năm 2 |
77 |
25,8 |
|
Năm 3 |
74 |
24,7 |
|
Năm 4 |
72 |
24,1 |
| Khối ngành |
Khối Tự nhiên |
76 |
25,4 |
|
Khối Xã hội |
84 |
28,1 |
|
Khối Đặc thù |
70 |
23,4 |
|
Khối Ngoại ngữ |
69 |
23,1 |
| Tổng cộng |
|
299 |
100,0 |
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỂU HIỆN THẤU CẢM CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu thấu cảm trên thế giới và tại Việt Nam. Về mặt quốc tế, tác giả phân tích các công cụ đo lường tiêu biểu: Thang đo thấu cảm của Hogan (1969), Bộ câu hỏi thấu cảm tình cảm QMEE của Mehrabian & Epstein (1972), Thang đo chỉ số thấu cảm EQ của Baron-Cohen & Wheelwright (2004), Thang đo TEQ của Toronto (2009) và Thang đo BES của Jolliffe & Farrington (2006). Tại Việt Nam, tác giả điểm qua các nghiên cứu về quan hệ liên nhân cách của Võ Thị Ngọc Châu (2002), kỹ năng cảm xúc của Ngô Thị Thạch Thảo (2013) và trí tuệ xã hội của Kiều Thị Thanh Trà (2013).
Về mặt khái niệm và cấu trúc, tác giả xác lập thấu cảm gồm hai mặt cấu thành chính:
- Thấu cảm cảm xúc (Affective empathy): Gồm 3 nhóm biểu hiện:
- Thay đổi tâm trạng, cuốn theo cảm xúc hoặc hành vi bộc lộ cảm xúc của người khác.
- Băn khoăn, quan tâm đến những cảm nhận của người khác trước lời nói và hành vi của mình.
- Hình thành tâm trạng thông qua các yếu tố tác động gián tiếp (âm nhạc, văn học nghệ thuật, phim ảnh).
- Thấu cảm nhận thức (Cognitive empathy): Gồm 4 nhóm biểu hiện:
- Nhận biết được cảm xúc của người khác qua ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.
- Phân biệt được các mức độ và cường độ cảm xúc khác nhau theo mô hình bánh xe Plutchik.
- Hiểu được nguyên nhân dẫn đến cảm xúc của người khác.
- Tôn trọng cảm xúc, quan điểm, sở thích khác biệt của người khác.
Chương này cũng phân tích các đặc điểm tâm lý cơ bản của lứa tuổi sinh viên: sự chuyển biến trong hoạt động chủ đạo từ học tập phổ thông sang học nghề mang tính nghiên cứu và tự giác; hoạt động chính trị - xã hội và giao lưu phong phú; sự phát triển của thế giới quan, năng lực tự ý thức, tự đánh giá và định hướng giá trị nhân cách.
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BIỂU HIỆN THẤU CẢM CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
Chương 2 trình bày toàn bộ kết quả khảo sát thực nghiệm trên mẫu 299 sinh viên, kết hợp dữ liệu phỏng vấn định tính từ sinh viên và cán bộ Đoàn - Hội.
1. Mức độ biểu hiện thấu cảm tổng thể
Điểm trung bình (ĐTB) tổng điểm biểu hiện thấu cảm chung của toàn mẫu đạt 209,67 điểm (trên thang điểm từ 74 đến 286), thuộc mức Cao. Phân bố điểm tập trung dày đặc trong khoảng 205 đến 215 điểm. Tỷ lệ khách thể đạt mức Cao chiếm 69,57%, mức Rất cao chiếm 2,34% (tổng cộng 97,66% đạt mức từ Cao trở lên), mức Trung bình chiếm 28,09%, và không có sinh viên nào rơi vào mức Thấp hoặc Rất thấp.
Khi so sánh giữa hình thức tự đánh giá và đánh giá qua tình huống khách quan, nghiên cứu phát hiện sự khác biệt rõ rệt có ý nghĩa thống kê ($t = 14,073; p = 0,000 < 0,05$):
| Nhóm công cụ |
Rất thấp (%) |
Thấp (%) |
Trung bình (%) |
Cao (%) |
Rất cao (%) |
ĐTB |
Độ lệch chuẩn |
| Tự đánh giá (Phần A) |
0,0 |
1,0 |
51,8 |
46,5 |
0,7 |
3,47 |
0,532 |
| Tình huống (Phần B) |
0,0 |
0,0 |
15,1 |
72,6 |
12,4 |
3,97 |
0,524 |
Sinh viên có xu hướng đánh giá bản thân khắt khe hơn so với cách xử lý thực tế trong các tình huống cụ thể (ĐTB 3,47 so với 3,97).
2. Biểu hiện thấu cảm cảm xúc
Ở mặt thấu cảm cảm xúc, ĐTB tổng đạt 106,35 điểm (mức Cao). Tỷ lệ sinh viên đạt mức Rất cao là 5,35%, mức Cao là 69,57%, mức Trung bình là 25,08%, không có mức Thấp hay Rất thấp.
Kết quả tự đánh giá trong 3 nhóm biểu hiện thấu cảm cảm xúc:
- Nhóm 2 (Băn khoăn, quan tâm đến cảm xúc của người khác) đạt ĐTB cao nhất: 3,612 (mức Cao). Biểu hiện cao nhất là "Tôi thấy có lỗi khi lỡ lời làm tổn thương ai đó" (ĐTB = 4,19; ĐLC = 0,697) và "Khi thấy ai đó đang bực bội, tôi không đề cập đến những chuyện gây khó chịu để tránh làm họ bực bội thêm" (ĐTB = 4,10; ĐLC = 0,863). Biểu hiện thấp nhất là "Tôi không kể chuyện kinh dị khi trong nhóm bạn có người hay khiếp sợ" (ĐTB = 2,82; ĐLC = 0,866).
- Nhóm 3 (Hình thành cảm xúc thông qua các yếu tố tác động gián tiếp) đạt ĐTB: 3,458 (mức Cao). Biểu hiện cao nhất là "Tôi xúc động khi đọc một câu chuyện buồn thương tâm trên báo" (ĐTB = 3,85; ĐLC = 0,873); biểu hiện thấp nhất là "Tôi tức giận khi nhân vật trong phim giận dữ" (ĐTB = 2,93; ĐLC = 1,048).
- Nhóm 1 (Thay đổi tâm trạng theo cảm xúc trực tiếp của người khác) đạt ĐTB thấp nhất: 3,198 (mức Trung bình). Biểu hiện cao nhất là "Tôi vui khi nhìn thấy ai đó cười tươi" (ĐTB = 3,99; ĐLC = 0,930); biểu hiện thấp nhất toàn mặt cảm xúc là "Tâm trạng của tôi thay đổi bởi tâm trạng của người khác" (ĐTB = 2,65; ĐLC = 1,129).
Kết quả đánh giá qua 4 tình huống thực tế:
- Tình huống 1 (Cảm xúc giận dữ): Khi bạn cùng nhóm bị bác bỏ ý kiến và nổi giận, 65,6% sinh viên khẳng định tâm trạng của mình có biến chuyển (chỉ 15,7% giữ nguyên tâm trạng). Xu hướng chuyển đổi gồm: lo lắng (50,2% phù hợp) và giận dữ theo (42,5% phù hợp).
- Tình huống 2 (Cảm xúc buồn bã): Khi thấy em nhỏ khóc vì mất thú cưng, 87,0% sinh viên có thay đổi tâm trạng (chỉ 2,6% không đổi). Trạng thái nổi trội là thương cảm (82,6% phù hợp) và buồn bã (44,8% phù hợp).
- Tình huống 3 (Cảm xúc sợ hãi): Khi bạn đi cùng sợ hãi tột độ vì dị ứng mèo, 81,9% sinh viên thay đổi tâm trạng (72,2% lo lắng, 62,2% bối rối). Về hành vi, 73,6% chọn đặt mèo xuống và an ủi bạn; 72,9% từ chối hành vi ép bạn sờ thử mèo.
- Tình huống 4 (Cảm xúc vui vẻ): Khi hàng xóm vui mừng vì con đỗ học bổng, 70,9% sinh viên có chuyển biến tâm trạng; 67,9% cảm thấy hân hoan (chỉ 14,7% ganh tỵ). Về phản hồi, 57,9% gửi lời chúc mừng và 55,2% động viên, khích lệ.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu mang lại các kết quả định lượng cụ thể:
- Xác định mức độ biểu hiện thấu cảm tổng thể của sinh viên Trường Đại học Sư phạm TP.HCM đạt mức Cao với ĐTB 209,67/286 điểm; 97,66% khách thể đạt mức từ Cao đến Rất cao; không có cá nhân nào ở mức Thấp hay Rất thấp.
- Chỉ ra sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê giữa nhận thức tự đánh giá (ĐTB = 3,47) và phản ứng trong tình huống cụ thể (ĐTB = 3,97), chứng minh sinh viên có xu hướng tự đánh giá năng lực thấu cảm của bản thân thấp hơn thực tế bộc lộ.
- Ở mặt thấu cảm cảm xúc (ĐTB = 106,35), sinh viên thể hiện sự quan tâm cao nhất đến việc tránh làm tổn thương người khác (ĐTB = 4,19) và dễ cộng hưởng với cảm xúc tích cực (vui vẻ, ĐTB = 3,99) hoặc cảm xúc gián tiếp qua sách báo, phim ảnh (ĐTB = 3,85) hơn là bị lây lan trực tiếp cảm xúc tiêu cực của người xung quanh (ĐTB = 2,65).
Về mặt giải pháp và kiến nghị, tác giả đề xuất:
- Đối với sinh viên: Tự giác rèn luyện kỹ năng lắng nghe tích cực, học cách nhận diện tín hiệu phi ngôn ngữ trong giao tiếp; chủ động tham gia các hoạt động tập thể và công tác xã hội để mở rộng trải nghiệm liên nhân cách.
- Đối với Đoàn Thanh niên – Hội Sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM: Đẩy mạnh các chiến dịch tình nguyện (Xuân tình nguyện, Mùa hè xanh, Tiếp sức mùa thi); thiết kế các diễn đàn, tọa đàm kỹ năng sống và chuyên đề tâm lý học đường nhằm tạo môi trường cho sinh viên rèn luyện năng lực chia sẻ và thấu cảm cảm xúc.
Về mặt đóng góp khoa học, đề tài là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên tại Trường ĐHSP TP.HCM khảo sát thấu cảm như một hiện tượng tâm lý độc lập. Công trình đã thiết lập một bảng hỏi kết hợp giữa tự lượng giá và xử lý tình huống thực tế, có tích hợp câu hỏi kiểm chứng độ tin cậy và hệ thống quy đổi ngày hoạt động tình nguyện theo tiêu chuẩn công tác Đoàn - Hội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn được xác định từ phạm vi nghiên cứu:
- Mẫu khảo sát giới hạn trong 299 sinh viên thuộc Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, chưa mở rộng so sánh liên trường hoặc trên các nhóm thanh niên ngoài môi trường sư phạm.
- Về nội dung, đề tài tập trung vào 4 cảm xúc cơ bản (vui, buồn, giận dữ, sợ hãi) theo mô hình rút gọn của Plutchik và BES, chưa bao quát toàn diện các sắc thái tâm lý phức tạp khác như sự xấu hổ, ngạc nhiên, hay tội lỗi.
- Công cụ nghiên cứu tình huống dừng lại ở các kịch bản mô tả trên giấy, chưa áp dụng các phương pháp đo lường hành vi thực nghiệm trực tiếp hoặc thiết bị ghi nhận sinh lý thần kinh.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở là mở rộng quy mô khách thể khảo sát trên nhiều trường đại học thuộc các khối ngành khác nhau, đồng thời xây dựng các chương trình thực nghiệm tác động tâm lý nhằm kiểm chứng hiệu quả phát triển thấu cảm cho sinh viên.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và giảng viên thuộc các chuyên ngành Tâm lý học, Giáo dục học, Công tác xã hội và Quản lý giáo dục. Cán bộ phụ trách công tác Đoàn - Hội và phòng công tác sinh viên tại các trường đại học có thể ứng dụng các số liệu thực trạng để định hướng phong trào thanh niên.
Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu gồm:
- Thiết kế bảng hỏi kết hợp giữa câu hỏi tự đánh giá (thang Likert 5 mức độ) và bài tập tình huống (3 mức độ), đặc biệt là kỹ thuật gài câu hỏi bẫy nhằm loại bỏ phiếu trả lời thiếu tin cậy.
- Khung quy đổi số ngày hoạt động tình nguyện chi tiết theo biểu mẫu quản lý sinh viên.
- Bảng phân loại các mức độ cảm xúc theo mô hình bánh xe Plutchik ứng dụng vào thang đo BES.
Câu hỏi thường gặp
1. Thang đo biểu hiện thấu cảm trong khóa luận được xây dựng dựa trên những công cụ lý thuyết nào?
Thang đo kế thừa Thang đo thấu cảm cơ bản (The Basic Empathy Scale - BES) của Darrick Jolliffe & David P. Farrington (2006) kết hợp cấu trúc hai thành tố (thấu cảm cảm xúc và thấu cảm nhận thức) của Baron-Cohen & Wheelwright (2004) và phân loại 4 cảm xúc cơ bản (vui, buồn, sợ hãi, giận dữ) theo mô hình bánh xe cảm xúc của Robert Plutchik.
2. Tiêu chí loại bỏ phiếu khảo sát không đạt độ tin cậy trong nghiên cứu là gì?
Bảng hỏi lồng ghép 5 câu hỏi kiểm chứng độ tin cậy mô tả các trạng thái phi thực tế về tâm lý người. Nếu điểm trung bình ($x$) của sinh viên ở 5 câu này đạt từ mức "Thường xuyên" đến "Rất thường xuyên" ($3,4 < x \le 5$), phiếu sẽ bị hủy. Trong 338 phiếu thu về, có 27 phiếu bị loại do vi phạm tiêu chí này.
3. Kết quả mức độ thấu cảm tổng thể của sinh viên ĐHSP TP.HCM đạt mức nào và có sự khác biệt giữa tự đánh giá với tình huống không?
Mức độ thấu cảm chung của sinh viên đạt mức Cao (ĐTB = 209,67/286). Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ($t = 14,073; p = 0,000$): sinh viên tự đánh giá bản thân ở mức thấp hơn (ĐTB = 3,47; 46,5% đạt mức cao) so với kết quả xử lý kịch bản tình huống thực tế (ĐTB = 3,97; 72,6% đạt mức cao).
4. Biểu hiện thấu cảm cảm xúc nào được sinh viên tự đánh giá cao nhất và thấp nhất?
Biểu hiện đạt ĐTB cao nhất là "Tôi thấy có lỗi khi lỡ lời làm tổn thương ai đó" (ĐTB = 4,19). Biểu hiện đạt ĐTB thấp nhất là "Tâm trạng của tôi thay đổi bởi tâm trạng của người khác" (ĐTB = 2,65).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Hải Uyên đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và đo lường thực nghiệm biểu hiện thấu cảm của 299 sinh viên Trường Đại học Sư phạm TP.HCM qua hai mặt cảm xúc và nhận thức. Kết quả cho thấy sinh viên có mức độ biểu hiện thấu cảm chung đạt mức Cao (ĐTB = 209,67), trong đó phản ứng qua tình huống thực tế tích cực hơn nhận thức tự đánh giá chủ quan. Nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và bộ công cụ đo lường có độ tin cậy phục vụ công tác nghiên cứu tâm lý học lứa tuổi và giáo dục kỹ năng cho sinh viên sư phạm.