Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG LÊ HỮU TRÁC 1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ XÃ HỘI VIỆT NAM THẾ KỶ XVII - XVIII VỚI SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG LÊ HỮU TRÁC Quá trình phát triển lịch sử tư tưởng của dân tộc Việt Nam luôn gắn liền và chịu sự chi phối bởi tiến trình phát triển kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước. Đó chính là sự phản ánh tồn tại xã hội của ý thức xã hội. Tồn tại xã hội nào thì ý thức xã hội ấy, tồn tại xã hội quyết định nội dung, tính chất, đặc điểm, xu hướng phát triển của các hình thái ý thức xã hội. Chính vì thế, từng giai đoạn phát triển của lịch sử kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam cũng sẽ có hệ tư tưởng đặc trưng phản ánh nó.
Ăngghen đã nói: “Chính con người khi phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình, đã làm biến đổi cùng với hiện thực đó của mình cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình. Không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức” [27, tr. Trong các thời kỳ lịch sử Việt Nam, giai đoạn Trịnh - Nguyễn phân tranh được đánh giá là thời kỳ sôi động nhất với nhiều diễn biến phức tạp, nhiều mâu thuẫn chính trị đan xen, tất yếu dẫn đến sự ra đời của nhiều khuynh hướng tư tưởng khác nhau hay chính là các hình thái ý thức xã hội. Trong bối cảnh rối ren đó, đã xuất hiện nhiều nhà tư tưởng với những khuynh hướng khác nhau, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác là một trong số đó.
Bối cảnh lịch sử Việt Nam thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh (Lê trung hưng) Sau khi vua Lê Hiến Tông băng hà, chính quyền nhà Lê thực sự suy kiệt. Năm 1522, Thái phó Nhân quốc công Mạc Đăng Dung tự quyền 9 phế vua Chiêu Tông, lập Lê Xuân (Cung Hoàng) lên làm vua. Đến năm 1527, Mạc Đăng Dung bức vua Lê phải nhường ngôi, lập ra nhà Mạc. Chính quyền nhà Mạc cố gắng củng cố, ổn định tình hình chính trị, giữ vững an ninh trong nước; mong muốn nhanh chóng tạo ra một lớp người có học thức mới trung thành với nhà nước mới bằng cách mở khoa thi Hội để chiêu mộ nhân tài.
Nhưng trước tình hình rối loạn trong nước, thêm vào đó là sự phá hoại của phong kiến phương Bắc, Mạc Đăng Dung tỏ ra lúng túng, sợ hãi khiến cho nhân dân và nhiều quan lại chán nản, phẫn nộ. Nhà Mạc dần rơi vào thế cô lập; tệ nạn tham nhũng, hạch sách nhân dân ngày càng lan rộng và gia tăng trong hàng ngũ quan lại. Kể từ khi nhà Mạc lên nắm quyền, nhiều quan lại cũ trong triều đình nhà Lê đã phản ứng kịch liệt, các phe phái phong kiến đối lập núp dưới chiêu bài khôi phục nhà Lê nổi lên ở nhiều nơi. Năm 1532, An Thành hầu Nguyễn Kim dựa vào sự giúp đỡ của vua Ai Lao, mộ quân luyện tập và tôn một người con của vua Chiêu tông tên là Ninh lên làm vua.
Một triều đình mới của nhà Lê hình thành ở Thanh Hóa, sử gọi là Nam Triều để phân biệt với Bắc Triều của nhà Mạc. Cuộc chiến tranh giữa Nam Triều và Bắc Triều kéo dài hơn 60 năm gây ra biết bao cảnh đau thương, tang tóc, mùa màng bị tàn phá, già trẻ bồng bế nhau chạy tan tác, kêu khóc, chết đói đầy đường. Đỉnh điểm của cuộc chiến tranh Nam - Bắc Triều là trận đánh xảy ra vào năm 1592, Trịnh Tùng đem quân tiến ra Bắc khiến nhà Mạc thua to. Cuộc chiến kết thúc, nhà Mạc sụp đổ.
Đất Thăng Long rơi vào tay Nam Triều. Tuy cuộc chiến của Nam - Bắc Triều kết thúc, nhưng lại châm ngòi cho sự bùng nổ cuộc chiến tranh mới, đó là sự phân liệt Đàng Trong - Đàng Ngoài. Năm 1545, sau khi Nguyễn Kim bị tướng nhà Mạc đầu độc giết hại, Trịnh Kiểm được đưa lên thay thế, chỉ huy mọi việc. Người con thứ của Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng thấy Trịnh Kiểm có ý muốn đoạt 10 quyền họ Nguyễn, bèn theo sự gợi ý của trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhờ chị mình là Ngọc Bảo (vợ của Trịnh Kiểm) xin cho vào trấn đất Thuận Hóa và được vua chấp thuận.
Năm 1558, Nguyễn Hoàng đặt dinh cơ ở làng Ái Tử tỉnh Quảng Trị. Ông là người khôn ngoan lại có tính nhân đức, thu nhận được nhiều hào kiệt, lòng người ai cũng mến. Đến năm 1559, Nguyễn Hoàng được vua cho vào trấn cả đất Quảng Nam mở rộng thêm địa giới cai quản của họ Nguyễn. Với vị trí trọng điểm chiến lược, Thuận Quảng đã được nhà Nguyễn đầu tư khai phá, xây dựng thành cơ sở cát cứ của mình.
Thuận Quảng là vùng đất đã được sát nhập vào lãnh thổ của Đại Việt từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV. Trong thời Lê sơ, Thuận Quảng là vùng đất xa xôi dùng làm nơi đày ải của những tù nhân bị ghép và tội lưu viễn châu và lưu cận châu. Nhà Lê đã sử dụng những tội nhân và những tù binh bắt được trong các cuộc chiến tranh với Trung Quốc và Chiêm Thành để tiến hành chính sách khai khẩn đất đai lập đồn điền. Trong số 43 đồn điền được thiết lập dưới thời Lê sơ đã có tới 4 sở thuộc về vùng đất Thuận Quảng, đó là Triệu Phong, Tân Bình, Thăng Hoa và Tư Nghĩa.
Vào thời Minh thuộc, phủ Tân Bình mới có 37 xã, 2.132 hộ gia đình, 4.738 nhân khẩu; phủ Thuận Hóa mới có 2 châu (Thuận châu và Hóa châu) 11 huyện, 79 xã, 1.662 nhân khẩu, thì đến sau đời Hồng Đức, riêng thừa tuyên Thuận Hóa đã có tới 2 phủ, 8 huyện, 4 châu, 90 tổng, 74 xã, 7 thôn, 26 trang. Riêng thừa tuyên Quảng Nam mới thành lập từ năm 1471 cũng đã có tới 3 phủ, 9 huyện, 68 tổng, 485 xã. Miền đất Thuận Quảng có lịch sử khai thác lâu đời nhưng cho đến thế kỷ XVI, vùng đất này vẫn bị coi là vùng biên viễn xa xôi, xứ sở đày ải của những tội nhân và những tù binh. Đặc biệt về trình độ kinh tế ở đây còn rất lạc hậu và thấp kém.
Cho đến thời Mạc, phú thuế đất Ô Châu chỉ toàn là các loại lâm thổ sản và các sản phẩm tự nhiên. Ngày vùng đất Quảng Nam mới sát nhập, tuy đồng ruộng rộng lớn hơn, sản phẩm phong phú hơn, nhưng nói chung đời 11 sống kinh tế ở đây hãy còn thấp kém. Tuy tình hình kinh tế ở Thuận Quảng còn lạc hậu nhưng vùng đất này lại vẫn còn nhiều khả năng khai thác và phát triển. Đó là điều kiện tốt cho họ Nguyễn xây dựng cơ sở cát cứ.
Thời gian đầu chính sách của họ Nguyễn, bên ngoài vẫn giữ đầy đủ quan hệ thần thuộc với Nam triều, giúp họ Trịnh tiêu diệt kẻ thù chung là nhà Mạc. Nhưng bên trong họ Nguyễn đã lo khai thác và xây dựng Thuận Quảng thành một vùng kinh tế độc lập thực hiện ý đồ cát cứ lâu dài và củng cố địa vị thống trị của dòng họ ngay trên mảnh đất mới khai phá. Khi vào trấn thủ Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng đã đem theo những người đồng hương ở Tống Sơn và những người nghĩa dũng ở Thanh Hóa cùng đi. Những người này, vào buổi ban đầu đã đóng một vai trò quan trọng trong việc khai phá đất đai, đồng thời họ cũng là chỗ dựa tinh cậy của Nguyễn Hoàng.
Sau khi ổn định tình hình ở đây, Nguyễn Hoàng đã đem quân ra Thăng Long giúp vua Lê suốt 8 năm để dẹp tàn quân của nhà Mạc; đồng thời cũng trấn áp các cuộc nổi dậy chống lại họ Trịnh ở Đại An. Năm 1600, Nguyễn Hoàng trở về Thuận Quảng và từ đó tách khỏi triều Lê - Trịnh. Để thoát khỏi sự nghi ngờ của chúa Trịnh, Nguyễn Hoàng đã gả con gái Ngọc Tú cho Trịnh Tráng (con của Trịnh Tùng); cho con trai là Nguyễn Phúc Nguyên vào trấn giữ Quảng Nam, còn mình giữ đất Thuận Hóa. Bên ngoài Trịnh - Nguyễn thì giả vờ hòa hiếu, nhưng bên trong đã ngấm ngầm chuẩn bị cho cuộc chiến lâu dài và ác liệt gần 50 năm.
Nguyễn Phúc Nguyên lên nối nghiệp cha sau khi Nguyễn Hoàng chết vào năm 1613. Ông tổ chức lại chính quyền, chỉ nộp phú thuế theo lệ, chuẩn bị đồn lũy kiên cố, lương thảo đầy đủ. Năm 1620, họ Trịnh đem quân vào Thuận Hóa, Nguyễn Phúc Nguyên không chịu nộp thuế nữa, lấy cớ đó họ Trịnh lại đem quân vào đánh Thuận Hóa vào năm 1627, mở màn cho cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn. Như vậy, từ năm 1600, mâu thuẫn giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn đã phát 12 triển tới mức độ gay gắt.
Thêm vào đó việc Nguyễn Phúc Nguyên lên thay Nguyễn Hoàng càng đẩy nhanh công cuộc cát cứ và cắt đứt dần quan hệ lệ thuộc vào họ Trịnh. Quan hệ giữa hai bên càng trở nên căng thẳng. Hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn đã chia cắt đất nước và xô đẩy nhân dân vào cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn”. Sự tranh chấp quyền lực giữa hai họ Trịnh - Nguyễn bắt nguồn từ khi Trịnh Kiểm nắm toàn bộ binh quyền, ám hại Nguyễn Uông.
Cả hai phe đều mượn danh vua Lê để lấn át tiêu diệt lẫn nhau, chính sự tranh giành quyền lực như thế đã làm cho mâu thuẫn giữa hai dòng họ càng trở nên sâu sắc. Mâu thuẫn đó chính là nguyên nhân cốt lõi cho việc bùng nổ chiến sự. Đỉnh điểm cuộc chiến giữa hai tập đoàn phong kiến là 7 trận đánh trong gần nửa thế kỷ (từ năm 1627 đến 1672). Trận thứ nhất diễn ra vào năm 1627, Trịnh Tráng thay mặt vua Lê triệu hồi Nguyễn Phúc Nguyên về giải trình tại sao không nộp thuế 3 năm.
Sau khi triệu tập hai lần Nguyễn Phúc Nguyên vẫn không về; Trịnh Tráng lấy cớ đó đem 5000 quân đi hỏi tội. Quân Nguyễn do Nguyễn Phúc (cháu Nguyễn Phúc Nguyên) thống lĩnh quân đội, chỉ huy kháng cự. Trận thứ hai năm 1633, một trong những người con của Nguyễn Phúc Nguyên tên là Anh, trấn thủ đất Quảng Nam có ý tranh quyền đã liên kết với họ Trịnh, đề nghị quân Trịnh tấn công vào cửa sông Nhật Lệ, Anh sẽ làm nội ứng khi có pháo lệnh. Quân Trịnh đem quân vào đợi 10 ngày không thấy tín hiệu, quân sĩ mệt mỏi, bị quân Nguyễn đánh bại.
Còn Anh không được cử đi đánh vì chúa Nguyễn đã nghi ngờ.