mở đầu cho thời kỳ rối loạn bậc nhất trong lịch sử nước nhà – thời kỳ nội chiến phong kiến, là sự tranh giành quyền lực, tình trạng hỗn loạn trong thời Lê – Mạc. Cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, nền thái bình thịnh trị mà nhà Lê gầy dựng gần một thế kỷ ròng rã, đã thực sự lung lay và sụp đổ. Từ đó cho đến khi họ Mạc cướp ngôi, chỉ trong khoảng 20 năm, đã có 6 vua Lê liên tục thay nhau lên ngôi, và bị phế truất. Kể từ Túc Tông (làm vua được sáu tháng), và nhất là từ Uy Mục (1505-1509), nhà Lê bước vào giai đoạn suy loạn.
Túc Tông chết, không có con nối ngôi, triều đình tôn người anh thứ 2 là Lê Tuấn lên làm vua, tức là Uy Mục. Mới lên ngôi, Uy Mục đã làm nhiều điều bạo ngược, giết tổ mẫu là Trường Lạc Thái hoàng Thái hậu (chính cung của Thánh Tông), Lễ bộ Thượng thư Đoàn Văn Lễ và Đô Ngự Sử Nguyễn Quang Bật (Bặt) vì những người này cho rằng ông là con của tỳ thiếp, không thể lên ngôi kế vị. Uy Mục tin dùng hoạn quan và ngoại thích, giết hại anh em, chú ruột, tất cả hai mươi sáu người. Kinh Vương Kiến là con út của vua Thánh Tông sợ hãi phải bỏ trốn biệt tích.
Nhà vua “đêm cùng cung nhân uống rượu vô độ, ai say thì giết, có khi bắt quân sĩ đánh nhau xem chơi” [35, 17 - 18]. 17 Giản Tu công Lê Oanh là anh em thúc bá, cũng bị bắt giam. Sau đó ông đút lót tiền cho người canh ngục để được thả ra, trốn vào Thanh Hóa, cùng với Nghĩa quốc công Nguyễn Văn Lang là em Trường Lạc Thái hoàng Thái hậu và các cựu thần đã bị trục xuất khỏi triều đình, đem quân ra kinh đô bắt giết Uy Mục rồi lên làm vua, tức là Tương Dực đế (1510-1516). Tương Dực cũng bạo ngược, hoang dâm không kém gì Uy Mục.
Ngoài việc giết hại các hoàng thân và tư thông với các cung nhân triều trước, Tương Dực còn xa xỉ quá độ. Nhà vua sai người thợ tên Vũ Như Tô xây ngôi điện 100 nóc và cửu trùng đài, hao tốn biết bao nhiêu công sức, tiền của và sức lực của nhân dân. Sứ nhà Minh coi tướng nhà vua, bảo rằng: “An Nam quốc vương mạo mỹ nhi thân khuynh, tính hiếu dâm, nãi trư vương dã, loạn vong bất cửu hi”. Nghĩa là: vua nước Nam dáng đẹp, nhưng mình nghiêng, tính hoang dâm, là vua tướng lợn, loạn vong không lâu nữa sẽ tới” [35, 18].
Bọn quý tộc ngoại thích dựa vào thế nhà vua, kết thành bè cánh nắm hết quyền hành, “phàm súc vật, hoa màu của dân gian đều cướp cả, nhà dân ai có đồ lạ, vật quý thì đánh dấu để lấy” [21, 48]. Lợi dụng tình hình sa đọa của chính quyền trung ương, bọn quan lại địa phương mặc sức tung hoành, nhũng nhiễu. Lương Đắc Bằng- lúc này là Tả thị lang bộ lại trong bài hịch của mình (thay mặt nhóm Nguyễn Văn Lang khi nổi binh giết chết Uy Mục) có đoạn tố cáo bọn quan lại: “tước đã hết mà lạm thưởng không hết, dân đã cùng mà lạm thú không cùng, phu thuế thu đến tơ tóc mà dùng của như bùn đất, bạo ngược như Tần Chính, đãi công thần như chó ngựa, coi dân chúng như cỏ rác” [44, 218]. Ông cũng khuyên vua mới nên “đuổi bỏ kẻ tà nịnh”, “công bằng tuyển bổ quan lại”, “cấm hối lộ để 18 bỏ thói tham ô” [21, 61].
Dĩ nhiên Tương Dực cũng như Chiêu Tông sau này, đã không nghe theo những lời khuyên chân chính, tâm huyết đó. Tình hình trong nước giặc giã nổi lên khắp nơi. Năm 1516, Trịnh Duy Sản đã cùng Lê Quảng Độ và Trình Chí Sâm giết Tương Dực và lập con Mục Ý Vương là Quang Trị mới 8 tuổi lên ngôi, làm vua được ba ngày, chưa kịp đổi niên hiệu thì bị Trịnh Duy Đại, là anh Trịnh Duy Sản, đem vào Tây Kinh rồi bị giết. Bấy giờ Nguyễn Hoằng Dụ nghe tin Trịnh Duy Sản đã giết vua, bèn đem quân về đốt phá Kinh thành.
Trịnh Duy Sản lại lập con Cẩm Giang vương lên làm vua tức vua Chiêu Tông (1516 – 1526) rồi rước vua vào Tây Kinh. Lúc bấy giờ bên ngoài thì giặc giã, bên trong thì các triều thần hoặc mưu phản và bị giết như Trịnh Duy Đại, Trần Chân, hoặc vì quyền mà gây thành bè phái đem quân đánh giết lẫn nhau như Nguyễn Hoằng Dụ và Trịnh Tuy. Lại thêm bộ tướng của Trần Chân là Hoàng Duy Nhạc, Nguyễn Kính. đem quân đánh phá kinh thành.
Chiêu Tông phải giao binh quyền cho Mạc Đăng Dung. Sau khi dẹp được bọn loạn thần, Mạc Đăng Dung trở nên chuyên quyền, dùng lọng phụng và thuyền rồng, giết hết những người tâm phúc của vua. Chiêu Tông lo sợ bày mưu với Nguyễn Hiền và Phạm Thứ bỏ kinh thành trốn lên Sơn Tây, cùng Trịnh Tuy ra đánh họ Mạc. Mạc Đăng Dung lập em Chiêu Tông là Xuân lên làm vua, tức là Cung Hoàng (1522 – 1527).
Năm 1525, Mạc Đăng Dung đem đại quân vào đánh Thanh Hóa, bắt được Chiêu Tông đưa về kinh đô, rồi năm sau sai người giết Chiêu Tông. Nguyễn Bỉnh Khiêm lớn lên thì gặp phải “vua quỷ”, rồi “vua lợn” và tiếp theo là những tranh chấp phe phái, loạn lạc liên miên, 19 nên ông đã không chịu ra thi cử để làm quan. Ông mong muốn có một minh quân quan tâm đến đời sống cùng cực của người dân trong hoàn cảnh đất nước rơi vào cảnh tranh chấp quyền lực triền miên. Năm 1527, Mạc Đăng Dung ép Cung Hoàng nhường ngôi, sau đó giết luôn cả Cung Hoàng và Thái hậu.
Mạc Đăng Dung sợ lòng người còn tưởng nhớ nhà Lê, nên công việc triều chính cũng đều theo luật lệ của tiền triều để thực hiện. Làm vua được ba năm (1527 - 1529), Mạc Đăng Dung nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh và lên làm thái thượng hoàng. Cựu thần nhà Lê sang Trung Quốc cầu cứu. Năm 1537, vua nhà Minh sai đem quân sang đóng gần ải Nam Quan.
Mạc Đăng Dung sai Nguyễn Văn Thái đi sứ nhà Minh để xin thân phục. Năm 1540, Mạc Đăng Dung thấy quân Minh sửa soạn sang đánh, đã đầu hàng tượng trưng bằng cách quàng dải lụa vào cổ xin “chịu tội” ở ải Nam Quan, nộp sổ điền thổ, sổ dân đinh và “dâng” những cái tên đất khống cho nhà Minh để quân Minh giữ được sĩ diện mà rút lui. Mạc Đăng Doanh làm vua được mười năm (1530- 1540) thì mất, con là Mạc Phúc Hải lên kế vị (1541 - 1546). Mạc Đăng Dung là ông vua có tài, được dân chúng ngưỡng mộ, lòng dân phần nhiều hướng về ông, nhưng dù sao thì cũng là bề tôi giết vua đoạt ngôi, nên Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn tiếp tục ở ẩn dạy học.
Đến đời Mạc Đăng Doanh, là lúc thịnh thời của nhà Mạc, Nguyễn Bỉnh Khiêm mới quyết định ra ứng thí để mong muốn có dịp giúp dân giúp nước. Đến đời Mạc Phúc Hải, họ Mạc đã phải đối phó với sự trung hưng của nhà Lê – bắt đầu cho giai đoạn phân tranh giữa Nam - Bắc triều. Năm 1532, đất nước chia làm hai, từ Thanh Hóa trở vào thuộc nhà Lê, gọi là Nam triều, từ Sơn Nam trở ra thuộc họ Mạc, gọi là 20 Bắc Triều. Hai bên tiến hành chiến tranh nhiều lần.
Mãi đến năm 1592, Trịnh Tùng thắng thế, chiếm được thành Thăng Long, bắt được Mạc Mậu Hợp, rước vua Lê về Đông Đô. Nhà Mạc mất ngôi từ đó, nhưng con cháu còn giữ được đất Cao Bằng ba đời nữa. Nguyễn Bỉnh Khiêm sống trong thời kỳ lịch sử nước nhà có những điểm rất đặc biệt. Chính trong hoàn cảnh lịch sử này đã giúp Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn nhận rõ hơn thực chất xã hội, thấy rõ bản chất xấu xa của chế độ, cũng là hoàn cảnh lịch sử đã ảnh hưởng đến tư tưởng nhân văn, thân dân, và quan niệm đạo đức thực tế của ông về sau.
• Những đặc điểm về kinh tế Bên cạnh những đặc điểm về chính trị, thì những chuyển biến về kinh tế thế kỷ XV-XVI cũng tác động mạnh mẽ đến sự hình thành những đặc trưng trong tư tưởng đạo đức của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thế kỷ XV là thời kỳ thịnh trị của chế độ trung ương tập quyền trong lịch sử chế độ quân chủ ở Việt Nam, nhưng ngay trong thời kỳ thịnh trị đó chế độ phong kiến Việt Nam cũng đã chứa đựng mầm mống suy yếu. Những mâu thuẫn trong xã hội bắt đầu xuất hiện, đặt biệt khi mâu thuẫn về lợi ích phát sinh trong lĩnh vực kinh tế. Đặc điểm kinh tế của thời kỳ này là sự hình thành rõ nét xu hướng và quá trình tư hữu hóa về ruộng đất - tư liệu sản xuất chủ yếu của chế độ kinh tế lúc bấy giờ.
Từ đầu thế kỷ XV, nước ta vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề của những khủng hoảng chính trị - xã hội từ thế kỷ XIV còn để lại. Nhận thức được yêu cầu lịch sử trong giai đoạn về sau, nhà Lê đã thực thi nhiều chính sách và những biện pháp kinh tế, bước đầu tỏ ra có hiệu quả nhất định như: chính sách lộc điền, chính sách quân điền, chính sách khẩn hoang, đồn điền .Do sự đổi mới về chính sách kinh tế nên nhà Lê đã nhanh chóng đạt được những thành quả to lớn về kinh tế và xã hội. Về bản chất, chính sách lộc điền đã đem ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước (chủ yếu là ruộng đất công do làng, xã quản lý) ban cấp cho tầng lớp quý tộc và quan lại cao cấp làm chủ sở hữu. Sự ưu đãi này đã biến tầng lớp quan lại, quý tộc nhà Lê nghiễm nhiên trở thành những địa chủ lớn.
Đồng thời, chế độ lộc điền đã góp phần củng cố, phát triển chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất cũng như xác lập một cách rõ ràng quan hệ địa chủ – tá điền và chế độ bóc lột địa tô phù hợp với bước phát triển mới của chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, và quan hệ sản xuất phong kiến nói chung. Cho đến nửa đầu thế kỷ XVI, chế độ sở hữu tư nhân phong kiến về ruộng đất đến triều đại nhà Lê bắt đầu phát triển mạnh và được coi là một trong những nguyên nhân sâu xa, có tính tất yếu dẫn đến sự sụp đổ không thể tránh khỏi của chế độ phong kiến nhà Lê về sau.