phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung luận văn được kết cấu thành 02 chương, 06 tiết và 14 tiểu tiết. 13 Chƣơng 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƢ TƢỞNG CANH TÂN CỦA ĐẶNG HUY TRỨ 1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI THẾ KỶ XIX - ĐẦU THẾ KỶ XX VỚI SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƢ TƢỞNG CANH TÂN CỦA ĐẶNG HUY TRỨ Tư tưởng là một bộ phận trong kiến trúc thượng tầng, thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần của xã hội. Nó là sản phẩm của quá trình nhận thức của con người ở trình độ phát triển cao.
Nó ra đời, vận động và biến đổi phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau, trong đó cơ sở kinh tế - xã hội là nhân tố quan trọng nhất, quyết định nội dung, tính chất của tư tưởng. Tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ cũng vậy, nó ra đời gắn liền với những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội … của Việt Nam và thế giới vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Điều kiện lịch sử - xã hội thế giới, thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX với sự hình thành, phát triển tƣ tƣởng canh tân của Đặng Huy Trứ Lịch sử thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, là giai đoạn có nhiều biến động, ảnh hưởng hết sức to lớn trên mọi mặt trong quá trình phát triển của lịch sử - xã hội loài người. Trước hết, ở Phương Tây, nhờ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – kỹ thuật, sức sản xuất phát triển vượt bậc, làm cho chủ nghĩa tư bản phát triển chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, với năm đặc trưng: một là, sự tập trung sản xuất và tư bản hình thành các tổ chức độc quyền; hai là, hình thành tư bản tài chính và đầu sỏ tài chính; ba là, xuất khẩu tư bản; bốn là, sự phân chia thế giới về 14 kinh tế; năm là, sự phân chia thế giới về lãnh thổ.
Đồng thời, để mở rộng thị trường, thu lợi nhuận nhiều hơn cho giai cấp tư sản. Các nước tư bản đã hướng cỗ máy xâm lược, bóc lột đến các dân tộc chậm phát triển đặc biệt là các nước ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La Tinh, điều này dẫn đến sự biến đổi sâu sắc trên các mặt của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội … trên phạm vi thế giới và gây ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam. Về kinh tế, trong lịch sử loài người, nếu như các giai cấp chủ nô, quý tộc áp dụng các phát minh khoa học vào cuộc sống, chủ yếu phục vụ nhu cầu giải trí, chiến tranh thì đến giai cấp tư sản là giai cấp đầu tiên trong lịch sử đã áp dụng khoa học - kỹ thuật vào quá trình sản xuất, thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển nhanh chóng, làm cho diện mạo của đời sống xã hội thay đổi. Cho nên, có thể khẳng định, giai cấp tư sản có vai trò rất lớn trong việc mở đường, phát triển khoa học - kỹ thuật nhằm thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển nhanh chóng, thể hiện tính cách mạng trong lịch sử, đúng như C.Ăngghen nhận định: “Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”[69, tr.Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế của chủ nghĩa tư bản, do quy luật phát triển không đồng đều nên dẫn đến các cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 1900 – 1903, sau đó tổng khủng hoảng và cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất.
Do vậy, để mở rộng thị trường, các nước tư bản đã tiến hành xâm lược và áp dụng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào các dân tộc phương Đông, làm biến đổi sâu sắc các mặt của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa … của các dân tộc này, đúng như nhận xét của C.Ăngghen trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Nó 15 buộc tất cả các dân tộc phải thực hành phương thức sản xuất tư sản nếu không sẽ bị tiêu diệt; nó buộc tất cả các dân tộc phải du nhập cái gọi là văn minh, nghĩa là phải trở thành tư sản. Nói tóm lại, nó tạo ra cho nó một thế giới theo hình dạng của nó” [69, tr. Mặt khác, với sự phát triển về kinh tế dẫn đến sự phân hóa xã hội sâu sắc, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản ngày càng gay gắt, quyết liệt. Bởi vậy, Ph.Ăngghen trong Lời nói đầu quyển Ngày 18 tháng sương mù của Lui Bônnapactơ đã viết: “Nước Pháp, hơn bất cứ nước nào hết, là nơi mà những cuộc đấu tranh lịch sử bao giờ cũng đạt đến kết cục triệt để, và do đó là nơi mà các hình thức chính trị luôn luôn thay đổi - tức là những hình thức trong đó cuộc đấu tranh giai cấp ấy diễn ra, những hình thức biểu hiện kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp ấy – đã có những hình thù rõ rệt nhất.
Là trung tâm của chế độ phong kiến thời trung cổ, là xứ sở kiểu mẫu của nền quân chủ tập quyền từ thời Phục hưng, của nước Pháp trong cuộc Đại cách mạng của mình đã phá hủy chế độ phong kiến và đã dựng lên một cách hết sức rõ nền thống trị thuần túy của giai cấp tư sản, mà không một nước nào khác ở châu Âu đã từng đạt được. Ở cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đang trỗi dậy chống giai cấp thống trị, cũng mang những hình thức gay gắt chưa từng thấy ở nước nào khác” [71, tr. 373] Về chính trị, trong quá trình phát triển, giai cấp tư sản dần dần củng cố và phát triển nền dân chủ tư sản - một giá trị văn hóa, có ý nghĩa rất to lớn đối với giai cấp tư sản, nó tạo nên bước chuyển từ chế độ quân chủ sang dân chủ; từ quân quyền, thần quyền sang pháp quyền … có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của các quốc gia phong kiến. Tuy nhiên, cuối thế kỷ XIX, nền dân chủ tư sản đã bộc lộ bản chất phản động, một số nước tư bản nhanh chóng trở thành chủ nghĩa đế quốc liên kết với nhau đi xâm lược mở mang 16 thuộc địa ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ - La tinh điều này thì lại không thể xem là có dân chủ.
Mặc dù vậy, nền dân chủ tư sản vẫn là giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được và trở thành vấn đề chính trị lớn có ảnh hưởng rất sâu sắc đối với thế giới, trong đó có Việt Nam, đặc biệt là những nhà nhạy cảm trước thời cuộc, trước những tiến bộ của nhân loại như Đặng Huy Trứ. Về cơ cấu xã hội, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, chính trị, cơ cấu giai cấp trong xã hội phương Tây cũng có sự thay đổi bên cạnh giai cấp tư sản, địa chủ quý tộc, nông dân, thì sự xuất hiện, phát triển ngày càng lớn mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng của giai cấp công nhân, đã tạo nên mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản ngày càng sâu sắc, quyết liệt hơn. Dẫn đến hàng loạt cuộc đấu tranh tự phát, quy mô lớn của công nhân thế giới chống lại giai cấp tư sản đã nổ ra. Tiêu biểu nhất là khởi nghĩa của công nhân dệt thành phố Li-ông (Pháp) những năm 1831, 1834; phong trào Hiến chương của công nhân Anh (1838 - 1848), khởi nghĩa của công nhân dệt thành phố Xilêdi (Đức) năm 1844, v.v…Sự thất bại của các phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản tất yếu đòi hỏi cần phải có một hệ tư tưởng mới để dẫn dắt phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản đi đến những bến bờ thắng lợi.
Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác xuất hiện đáp ứng yêu cầu lịch sử - xã hội đó và trở thành ngọn cờ lý luận cho giai cấp công nhân. Với sự soi đường, dẫn lối của Chủ nghĩa Mác đẩy phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản trên thế giới đã giành được những thành công to lớn, đã mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân loại. Những thành công của phong trào cách mạng vô sản như một luồng gió mới nhanh chóng lan rộng khắp thế giới, đã ít nhiều tác động đến tư tưởng canh tân ở Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong đó có tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ. 17 Về khoa học và kỹ thuật, những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cũng có nhiều bước tiến vượt bậc, góp phần to lớn vào sự phát triển của kinh tế, chính trị, xã hội của nhiều nước trên thế giới như: học thuyết về sinh học của Đácuyn (Charles Darwin), di truyền học của Menđen (Gregor Mendel); trong lĩnh vực y học có phát minh quan trọng về vắcxin của Paxtơ (Louis Pasteur), hóa học có Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học của Menđêlêép (Dmitri Ivanovitch Mendeleiev); hay Anhstanh (Albert Einsetein) với học thuyết tương đối của mình đã đánh dấu bước chuyển quan trọng trong ngành vật lý học … Còn trên lĩnh vực kỹ thuật, nét nổi bật ở thời kỳ này là những phát minh về điện như: phát minh của Moocxơ (Samuel Morse) về điện báo; Êđixơn (Thomas Edison) về bóng đèn và xây dựng nhà máy điện; tiếp theo là những phát minh về điện thoại, điện ảnh, vô tuyến truyền thanh và phát hiện ra tia Rơnghen … Với những phát minh khoa học và những tiến bộ kỹ thuật nêu trên đã góp phần làm tăng nhanh chóng sản lượng của các ngành công nghiệp như C.Mác đã viết: “sự chinh phục những lực lượng tự nhiên, sự sản xuất bằng máy móc, việc áp dụng hóa học vào công nghiệp và nông nghiệp, việc dùng tàu thủy chạy bằng hơi nước, đường sắt, máy điện báo, việc khai phá toàn bộ lục địa, việc điều hòa sông ngòi …” [69, tr.
Có thể nói, sự nở rộ nhiều thành tựu khoa học, kỹ thuật ở các nước tư bản phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho con người nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh, hiểu biết tự nhiên, xã hội sâu sắc hơn.