Chương 1. Khái quát về AEC và tự do hóa thương mại trong AEC 1. Khai quát về AEC 1. Bối cảnh hình thành AEC Tháng 12/1997, nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập ASEAN và sau khi Hiệp hội đã bao gồm cả 10 quốc gia Đông Nam Á, Lãnh đạo các nước ASEAN đã thông qua văn kiện quan trọng “Tầm nhìn ASEAN 2020”, với mục tiêu tông quát là đưa Hiệp hội trở thành “một nhóm hài hòa các dân tộc Đông Nam Á, gắn bó trong một cộng đồng các xã hội đùm bọc lẫn nhau” Đấy là lần đầu tiên ý tưởng hình thành một Cộng đồng trong Hiệp hội ASEAN được đề cập.
Tháng 10/2003, Lãnh đạo các nước ASEAN đã ký Tuyên bố Hòa hop ASEAN II (hay còn gọi là Tuyên bố Bali II), nhất trí dé ra mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2020 với ba trụ cột chính: Cộng đồng An ninh (ASC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội (ASCC). Tháng 1/2007, dé kip thích ứng với qua trình liên kết toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ, cũng như trên cơ sở những thành tựu mà ASEAN đã đạt được, Lãnh đạo các nước ASEAN đã quyết định rút ngắn tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN sớm lên 5 năm, tức là vào 2015 (thay vì vào năm 2020 như thỏa thuận trước đây); đồng thời cũng quyết định xây dựng Hiến chương ASEAN. AEC được thiết lập dựa trên nhiều lĩnh vực khác nhau như thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, chính sách cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, v.v, trong đó, thương mại hàng hóa là một nội dung xương sống. Có thể nói, đây là lĩnh vực truyền thống, là mục tiêu mà các nước ASEAN hướng tới trong suốt quá trình hợp tác.
Dé thực hiện mục tiêu này, các nước ASEAN đã và đang nỗ lực triển khai các biện pháp đề ra một cách hiệu quả và đa dạng. Tuy nhiên, quá trình này không phải mới được bắt đầu từ năm 2003 (sau tuyên bố Bali II) mà thực tế, các nước ASEAN đã kiên trì thực hiện các cam kết nhằm thiết lập khu vực thương mại tự do từ những giai đoạn đầu của hợp tác 12 kinh tế. Năm 1992, trước bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu đang diễn ra ngày cảng mạnh mẽ, Lãnh dao mười nước ASEAN đã thống nhất thành lập khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA). Đây chính là tiền đề quan trọng cho việc xây dựng Cộng đồng kinh tế mà ASEAN đang hướng tới.
Mục tiêu chiến lược của Hiệp định AFTA là tăng cường năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh của ASEAN, thúc đây hiệu quả kinh tế trong một thị trường và cơ sở sản xuất đơn nhất. Trên cơ sở đó, nội dung cơ bản của AFTA là Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) với ba van đề chủ yếu, không tach rời là cắt giảm thuế, loại bỏ các hàng rào phi thuế và hài hòa các thủ tục hải quan. Về thuế quan, ban đầu, các nước thống nhất sẽ cắt giảm thuế quan trong nội bộ ASEAN xuống mức từ 0-5% trong giai đoạn 15 năm, tức là hoàn thành vào năm 2008. Tuy nhiên, vào tháng 9 năm 1994, tại Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 26, các nước ASEAN quyết định đây tiễn độ thực hiện AFTA sớm hơn 5 năm.
Theo đó, sáu nước thành viên cũ là Bru-nây, In-d6-né-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin, Xinh-ga-po và Thái Lan hoàn thành CEPT vào ngày 1 tháng 1 năm 2003. Bốn nước tham gia AFTA sau là Cam-pu-chia, Lào, Mi-an-ma và Việt Nam (CLMV) có thời hạn hoàn thành CEPT muộn hon. Trên cơ sở Hiệp định CEPT, trong quá trình xây dựng AEC, các nước thành viên đã đưa ra và cam kết thực hiện việc xóa bỏ các rào cản phi thuế theo 3 gói lịch trình là giai đoạn 2008-2010 đối với các nước ASEAN-6, giai đoạn 2010-2012 đối với Phi-lip-pin và giai đoạn 2013-2015, linh hoạt tới 2018 đối với CLMV. Hiện nay, việc xóa bỏ này vẫn đang được các nước ASEAN thực hiện theo kế hoạch đề ra.
Dự kiến trong thời gian tới, ASEAN sẽ xây dựng một cơ chê phù hợp đê rà soát và tông hợp các rào cản được loại bỏ. Với việc nghiêm túc thực hiện các cam kết đã đề ra nhằm thiết lập khu vực thương mại tự do mà ASEAN kỳ vọng vào đầu những năm 90 đã được hiện thực hóa. Đến nay, AFTA đã được các nước ASEAN nâng cấp lên một mức độ hợp tác mới - một Hiệp định toàn diện, bao quát và phù hop với tình hình mới hon với tên gọi Hiệp dinh Thuong mai hàng hóa ASEAN (ATIGA). 13 Như vậy, từ ý tưởng ban đầu thiết lập một khu vực thương mại tự do (FTA), ASEAN đã và đang hướng tới mục tiêu xây dựng một thị trường duy nhất và cơ sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự lưu chuyên tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có tay nghề; tạo sự hấp dẫn với đầu tư-kinh doanh từ bên ngoài.
Từ đó, thúc đây sự thịnh vượng chung cho cả khu vực và tạo ra một khu vực kinh tế có tính cạnh tranh cao, hội nhập đầy đủ vào nên kinh tê toàn câu. Nhìn lại chặng đường vừa qua, kế từ khi AFTA được thực hiện, có thé khẳng định AEC đang dần hiện hữu. Đó chính là kết quả của quá trình nghiên cứu, sáng tạo và nỗ lực hết mình nhằm thiết lập và duy trì một khu vực thương mại tự do năng động, bền vững và đầy tiềm năng của các quốc gia thành viên ASEAN. Các tru cột chính của AEC Không giống như EU, ASEAN không tạo lập các tổ chức quản lý trung ương như Ủy ban Liên minh châu Âu EU hay Ngân hàng Trung ương châu Âu mà sẽ tập trung vào việc xóa bỏ các rao cản kinh doanh, thương mai.
AEC được thành lập nhằm mục đích tạo dựng một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất cho các quốc gia thành viên ASEAN, thúc day dòng chu chuyên tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động có tay nghề trong ASEAN. Mục tiêu của AEC là thúc đây phát triển kinh tế một cách công băng, thiết lập khu vực kinh té có năng lực cạnh tranh cao ma với năng lực cạnh tranh này, ASEAN có thé hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu.Đến năm 2015, ASEAN sẽ trở thành: (i) Một thị trường chung và cơ sở sản xuất thống nhất thông qua các biện pháp: đỡ bỏ các rào cản đối với sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động kỹ năng cũng như tạo thuận lợi cho sự lưu chuyển tự do hơn của dòng vốn; thực hiện các biện pháp về các lĩnh vực ưu tiên hội nhập. (ii) Một khu vực kmh tế có khả năng cạnh tranh cao trên cơ sở thực thi chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng, TMDT. 14 (iii) Một khu vực phát triển kinh tế cân bang thông qua thực hiện các biện pháp về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Sáng kiến Hội nhập ASEAN nhằm giúp các nước CLMV (Campuchia- Lào- Myanmar- Việt Nam) nâng cao năng lực.
(iv) Hội nhập hiệu quả vào nên kinh tê toan câu trên cơ sở tham gia vào các thỏa thuận tự do hóa thương mại khu vực, tích cực tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đồng thời, ASEAN nhất trí đề ra Cơ chế thực hiện và Lộ trình chiến lược thực hiện Kế hoạch tổng thể.ASEAN cũng nhất trí xác định 12 lĩnh vực ưu tiên day nhanh liên kết với lộ trình hoàn thành đến năm 2010, đó là: Hàng nông sản; Ô tô; Điện tử; Nghề cá; Các sản phẩm từ cao su; Dệt may; Các sản phẩm từ 20; Vận tải hàng không; TMDT ASEAN; Chăm sóc sức khoẻ; Du lịch; va Logistics. Nhu vậy, với bốn trụ cột chính của AEC như trên cho thấy: Thứ nhát, khi ASEAN trở thành một thị trường duy nhất và một cơ sở sản xuất thông nhất, trong đó có sự lưu chuyên tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có tay nghề sẽ là một thuận lợi lớn đối với TMĐT của các quốc gia thành viên. Bởi với khi rào cản trong trao đôi thương mại khu vực được xóa bỏ thì khối lượng và tốc độ lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ sẽ được đây mạnh.Đó chính là một cơ hội mới cho việc đây mạnh sự phát triển của TMĐT.
Mặt khác, giao dịch TMĐT sẽ không còn bị bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà có thé mở rộng trong toàn khu vực, thậm chí trên toàn cầu. Bên cạnh đó, ASEAN là khu vực đầu tiên trong thế giới đang phát triển có được khung chính sách pháp lí đối với TMĐT (e-commerce).Dự báo 10 năm nữa, đây sẽ là khu vực có nhiều thành tựu nhất trong các quốc gia đang phát triển liên quan đến việc thực hiện đồng bộ hóa luật TMĐT.Tuy nhiên, trong khu vực đa dạng như Đông Nam Á, cần đề cập đến các công cụ quốc tế.Quá trình đồng bộ hóa cần chú trọng tính có thé đoán trước trong việc sử dụng TMĐT.TMĐT là thành tố chính đối với các quốc gia ASEAN dé hiện thực hóa các mục tiêu của nền kinh tế hội nhập khu vực.Có một thị trường TMĐT đơn nhất sẽ cho phép các quốc gia thành viên ASEAN tận dụng việc phát triển kinh tế nhanh trong khu vực và các quốc gia láng giềng. Việc đồng bộ hóa luật TMĐT là chủ yếu dé tăng cường hội nhập khu vực thông qua TMĐT, hài hòa hóa thương mai, du lịch, outsourcing, chính phủ điện tử, điện toán dam mây, thương mai di động, và mạng xã hội. 15 Thứ hai, mục tiêu mà AEC hướng tới là hình thành một khu vực kinh tế năng động và có sức cạnh tranh cao, cũng như là một khu vực phát triển kinh tế đồng đều, nhất là thực hiện có hiệu qua Sáng kiến liên kết ASEAN (IAI).
Nếu những mục tiêu này trở thành hiện thực sẽ góp phần không nhỏ trong việc thúc đây tăng trưởng kinh tế của các quốc gia thành viên. Với nền tảng CNTT và viễn thông đã đạt tới một trình độ nhất định, cùng với sự hợp tác cùng nhau phát triển, sẽ giúp cho các quốc gia thành viên AEC có sự phát triển đồng đều. Khi đó, giao dịch TMĐT của ASEAN sẽ có điều kiện phát triển cả về chiều rộng và chiều ^ sau. Thứ ba, khi ASEAN là một khu vực hội nhập day đủ vào nền kinh tế toàn cầu sẽ mở ra một cơ hội mới cho hợp tác kinh tế của ASEAN với các nước ngoải khối, đặc biệt với các cường quốc kinh tế như Mỹ, Nhật, hoặc EU.từ đó, mở ra cơ hội trao đôi thương mại tự do với các nước và khu vực trên toàn cầu.