Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu va cơ sở lý luận về thương mại điện tử bán lẻ Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và xử lý số liệu Chương 3: Đánh giá hoạt động thương mại điện tử bán lẻ trên thế giới trong đối sánh với Việt Nam Chương 4: Một số hàm ý cho các bên tham gia thương mại điện tử bán lẻ tại Việt Nam CHUONG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TU BAN LẺ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu quốc tế Nghiên cứu của Qianhua Luo và cộng sự năm 2022 đã chỉ ra rằng, công tác day nhanh tốc độ phát triển của thị trường thương mại điện tử bán lẻ và định hình lại các mô hình mua sắm phụ thuộc vào yếu tố xã hội. Mục tiêu của nghiên cứu nay là xác định phong cách mua sắm và lượng hóa mức độ phô biến của chúng trong các thế hệ, điều tra tác động của đại dịch đối với quá trình chuyển đối phong cách mua sắm, cũng như xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm.
Nhóm tác giả tiễn hành khảo sát trên 313 hộ gia đình ở vùng Sacramento, California, Mỹ. Kết quả nghiên cứu chi ra rằng, tỷ lệ người mua sam phụ thuộc vào Thuong mại điện tử cao hon so với số liệu trước khi có dịch bệnh. Khoảng 30% hộ gia đình vẫn giữ được thói quen mua săm như cũ, số hộ gia đình thay đổi thói quen mua sắm và sử dụng các phương thức mua sắm thông qua thương mại điện tử thường xuyên hon đạt 54%, trong khi 16% có xu hướng ngược lại và muốn mua sắm trực tiếp hơn. Đồng thời, bài nghiên cứu cũng làm rõ sự khác nhau trong thói quen mua sắm của các thế hệ Gen Z, Millennials, Baby Boomers va The Silent Generation.
Nhóm tac giả muốn làm rõ đặc biệt những thay đổi trong hành vi mua sắm diễn ra có thay đổi vĩnh viễn xu hướng mua sắm trực tuyến hay tại cửa hàng hay không. Bài nghiên cứu tiễn hành khảo sát, từ đó phân tích mô tả và lập mô hình lựa chọn rời rac DCM (Discrete Choice Model) về phản hồi của người dùng dé tìm ra các thuộc tinh quan trọng nhất ảnh hưởng đến hành vi mua sắm trực tuyến của họ. Kết quả của nghiên cứu cho thấy mọi người có xu hướng quay lại mua săm trực tiếp sau đại dịch. Dựa trên những phát hiện này, khó có thé khang định rang mua sắm trực tuyến có thé thay thế mua sắm tại cửa hàng do yếu tố thị trường.
Do đó, các bên liên quan đến giao thông vận tải trong thương mại cần đặc biệt chú ý đến cả mua sắm tại cửa hàng và mua sắm trực tuyến đề lập kế hoạch và quản lý vận hành cơ sở hạ tầng giao thông vận tải hiệu quả. Elena Higueras-Castillo và cộng sự tập trung phân tích các yếu tổ thúc đây cũng như rào cản đối với ý định sử dụng các kênh mua sắm trực tuyến, trong sự tương quan với việc mua sắm trực tiếp tại cửa hàng thông qua bài nghiên cứu “Intention to use e-commerce vs physical shopping. Difference between consumers in the post-COVID era” (2023). Mức độ phủ sóng cao của ngành thương mại điện tử đã cho thay xu hướng trong việc mua sắm trực tuyến ngày càng lớn.
Nghiên cứu sử dụng mô hình ƯTAUT2, cũng như xác định các phân khúc người tiêu dùng trong mua sắm online, trong sự so sánh với phân khúc mua sắm trực tiếp truyền thống. Ngoài ra, mô hình hồi quy cây phân cấp áp dụng phương pháp CHAID cũng được sử dụng thông qua bang câu hỏi trực tuyến với cỡ mẫu khảo sát là 491 người Bồ Đào Nha và 345 người Tây Ban Nha. Kết quả cho thấy sự khác biệt trong thói quen sử dụng các kênh mua sắm điện tử giữa hai quốc gia, từ đó đưa ra những hàm ý cho phân khúc người dùng tại mỗi nước nhăm cải thiện mức độ hiệu quả trong việc sử dụng nền tảng thương mại điện tử. Nghiên cứu “Critical determinants for mobile commerce adoption in Vietnamese small and medium-sized enterprises” (Richard Tay va cộng sự, 2020) làm rõ các yếu tố quyết định trong việc áp dung thương mai di động (m- commerce) tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) ở Việt Nam.
Dựa trên đánh giá tổng hợp về kết quả nghiên cứu đi trước, nhóm tác giả xây dựng khung cơ sở lý thuyết dé hiểu rõ hơn về việc áp dụng thương mại di động trong các tô chức. Nhóm tác giả sau đó đã củng cé các lí thuyết này bằng mô hình phương trình cau trúc dựa trên nguồn dữ liệu thu thập được từ 513 doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhận thức về lợi ích, tương thích và bảo mật, cũng như mức độ sẵn sàng thích ứng, tính đổi mới của doanh nghiệp, hỗ trợ của chính phủ và CNTT của nhà quản lý là những yếu tố quyết định quan trọng của việc áp dụng thương mai di động vào doanh nghiệp. Nghiên cứu trong nước Nghiên cứu “Nâng cao chất lượng dịch vụ Thương mại điện tử (B2C) Việt Nam” (Dương Thị Dung, Vũ Huyền Trang - Khoa Kinh tế và OTKD, Trường Đại học Hùng Vương, Phú Thọ) đề cập tới sự bùng nô của internet va điện thoại thông minh, các hoạt động kinh doanh qua mạng ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Bên cạnh đó, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu và rộng với thương mại quốc tế. Nếu không có thương mại điện tử, nền kinh té sẽ rơi vào tình trang ngủ đông. Hơn nữa, thị trường bán lẻ trực tuyến Việt Nam là một thị trường năng động nhất trong khu vực Đông Nam Á, với tốc độ tăng trưởng hàng năm cao. Vì vậy, nghiên cứu này nhăm nâng cao chất lượng dịch vụ thương mại điện tử bán lẻ tại Việt Nam.
Số liệu được thu thập từ 385 khách hang mua săm trực tuyến tại 5 website thương mại điện tử lớn của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu chỉ ra: 08 yếu tố của chất lượng thương mại điện tử bán lẻ tác động thuận chiều đến sự hài lòng của khách hàng. Nghiên cứu “Dịch vụ thị trường Thương mại Điện tử” (Landscape, 2020) đưa ra van dé cốt lõi về thị trường Thương mại Điện tử 2020 của Việt Nam trong khối Đông Nam Á. Việt Nam là một nước có tốc độ phát triển kinh tế khá nhanh và vượt trội so với những nước khác.
Việt Nam đang trở thành thị trường được các nhãn hàng, nhà bán lẻ, nhà đầu tư nhắm đến. Đề nước ta có được nền kinh tế như hiện nay thì thị trường Thuong mại Điện tử cũng đã góp 1 phan sức lực không hề nhỏ trong những năm gần đây. Bài báo cáo “Tổng quan thị trường thương mại điện tử Việt Nam 2020” (trang web: blog.vn cura trang thương mại điện tử Shopbay) có nhắc đến năm 2020 là một năm day biến động và bị thiệt hai nặng nề về mọi mặt trong đời sống, đặc biệt là các hoạt động kinh tế — xã hội bị ngưng trệ. Tuy nhiên, vẫn có những ngành nghề, lĩnh vực không những không bị ảnh hưởng ma còn bứt phá mạnh mẽ và “bội thu” trong khoảng thời gian này.
Và thương mại điện tử là 1 trong số đó. Bai báo “Mua sam online: Lam sao dé vừa phát triển vừa chống gian lận thương mại?” (trang web baochinhphu.vn của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) có nhắc tới Nếu như năm 2018, tỉ trọng doanh thu của thương mại điện tử trên tong mức bán lẻ hàng hóa cả nước đạt 3,6% thì năm 2019 con số này là 4,2 còn năm 2020 tỉ trọng này là 5,5%. Đặc biệt, trong năm 2020, mặc dù thị trường bị ảnh hưởng khá nặng nề bởi dịch bệnh nhưng thương mại điện tử bán lẻ Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng ấn tượng 18%, quy mô thị trường 11,8 tỷ USD. Việt Nam hiện dang là nước duy nhất ở Đông Nam A có tăng trưởng thương mại điện tử bán lẻ ở mức 2 con sé.
Khoảng trỗng nghiên cứu Nhìn chung, các nghiên cứu đã nêu ra được sự tăng trưởng của thương mại điện tử bán lẻ trên thế giới và tại Việt Nam. Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng đưa ra được một số giải pháp dé nâng cao hiệu quả kinh doanh thương mại điện tử tại Việt Nam. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu còn chưa rõ lý do giúp thương mại điện tử bán lẻ phát triển ở Việt Nam, cụ thê hơn, các nghiên cứu về thói quen mua sắm của người tiêu dùng trên các sàn giao dịch thương mại điện tử bán lẻ ở Việt Nam còn tồn tại một số bat cập. Nhìn thấy được vấn đề này, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu thương mại điện tử bán lẻ ở Việt Nam từ những nghiên cứu hoạt động thương mại điện tử bán lẻ quốc tế, tác giả có những đối sánh với thương mại điện tử bán lẻ tại Việt Nam và từ đó đưa ra các hàm ý chính sách dé Việt Nam phát triển bền vững hơn nữa các hoạt động thương mại điện tử bán lẻ.
Cơ sở lý luận về TMĐT 1. Khái niệm về TMĐT Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO): "Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hang và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet". Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) định nghĩa: "Thương mại điện tử liên quan đến các giao dịch thương mại trao đôi hàng hóa và dịch vụ giữa các nhóm (cá nhân) mang tính điện tử chủ yếu thông qua các hệ thống có nền tảng dựa trên Internet." Các kỹ thuật thông tin liên lạc có thể là email, EDI, Internet và Extranet có thể được dùng dé hỗ trợ thương mại điện tử. Theo Uy ban châu Âu: "Thương mại điện tử có thé định nghĩa chung là sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân, t6 chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet hay các mạng máy tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến).
Thuật ngữ bao gồm việc đặt hang và dịch thông qua mang máy tính, nhưng thanh toán va quá trình vận chuyên hàng hay dịch vụ cuối cùng có thé thực hiện trực tuyến hoặc băng phương pháp thủ công. Tóm lại, về cơ bản, thương mại điện tử chỉ xảy ra trong môi trường kinh doanh mạng Internet và các phương tiện điện tử giữa các nhóm (cá nhân) với nhau thông qua các công cụ, kỹ thuật và công nghệ điện tử.