Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Sự phat triển tính tích cực nhận thức của học sinh không chỉ giữ vai trò to lớn trong việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh. Trong giáo dục học, chức năng giáo dục của sự dạy học cũng rất quan trọng. Ta chỉ có thể biến kiến thức thành niém tin tư tưởng và phát triển ý thức đạo đức của học sinh khi các em hiểu tài liệu một cách toàn diện, khi những kết luận và khái quát hóa ma cdc em lĩnh hội là kết quả của những cố gắng tư duy tự lực va của những tinh cảm tích cực.
Như vậy việc tích cực học tập của học sinh sẽ ảnh hưởng co bản đến sự hình thành thế giới quan cộng sản chủ nghĩa và phẩm chất đạo đức của các em [ I6]. Phát huy tính tích cực không phải là vấn để mới. Từ thời cổ đại các nhà sư phạm tiễn bối như Khổng Tử, Arixtot. đã từng nói đến tam quan trọng to lớn của nó.
Komenski nhà sư phạm lỗi lạc của thế ki 17 đã đưa ra những biện pháp dạy học bắt học sinh tim tồi, suy nghĩ để tự nắm bắt bản chất của sự vật, hiện tượng. Ruxo cũng cho rằng phải hướng học sinh tích cực tự giành kiến thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo.Distecvec thi cho rằng người giáo viên toi là người cung cấp cho học sinh chân lí, người giáo viên giỏi là người day cho ho tim chân lí. Usinxki nhấn mạnh tam quan trọng của việc điều khiển, dẫn dất học sinh của các thầy giáo. Trong thế kỉ 20, các nhà giáo dục Đông, Tây đều tìm kiếm con đường tích cực hóa hoạt động dạy học.
Phải kể đến tư tưởng của những nhà giáo dục nổi tiếng như B,P. Sascôp “Những cơ sở của việc dạy học hiệu nghiệm ở nhà trường x6 viết” (Minxk,1959), N. Cukharep với "Hình thành tính tự lực trí tuệ " đã có những đóng góp nhất định vào việc giải quyết vấn để nói trên. Những công trình về phương pháp phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh của MP.
Cuday và những người khác | I6]. Ở Việt Nam các nhà lí luận dạy học cũng đã viết nhiều về tính tích cực nhận thức như GS, Hà Thế Ngữ, GS. Nguyễn Ngọc Quang, GS. Gần đây tư tưởng dạy học tích cực đã là một chủ chương quan trọng của ngành giáo dục nước ta, đã được giới thiệu rộng rãi trên các báo và khoa học chuyển ngành (Tạp chí Nghién Cứu Gido Dục) [53].
Tuy nhiên các tác giả đứng trên nhiều góc độ khác nhau để xem xét tính tích cực nhận thức; nghiên cứu tính tích cực nhận thức trong mối quan hệ với các vấn để khác như nhu cầu thành đạt [5], quan hệ liên nhân cách [29]; tích cực hóa hoạt động của học sinh trong việc dạy môn học cụ thể. Vì vậy cẩn phải hiểu như thế nào về tính tích cực nhận thức? Thực trạng biểu hiện tích cực nhận thức của học sinh trung học phổ thông hiện nay ra sao? Điều kiện và mỗi trường học tập có ảnh hưởng đến tính tích cực nhận thức của học sinh hay không? Vấn dé này can phải tiếp tục nghiên cứu. Đạo đức là vấn để liên quan trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhãn cách của con người. Đạo đức có quan hệ mật thiết với việc xây dựng các mối quan hệ ứng xử giữa con người với con người nhằm duy trì một xã hội tốt đẹp.
UNESCO, Ủy ban về UNICEF của Tây Ban Nha, Hiệp hội hành tinh, Brahma Kumaris hỗ trợ cho chương trình giáo dục các giá trị cuộc sống đã đưa ra những bài học giá trị danh cho thanh miễn tuổi 15-18 [40]. Ở Việt Nam, các công trình nghién cứu về đạo đức thường gắn lién với tên tuổi của các nhà học giả lớn. Trước hết phải kể đến quan điểm đạo đức của chủ R tịch Hổ Chí Minh. Đó là hệ thống tư tưởng đạo đức mới, kết hợp đạo đức người công sản với tinh hoa văn hóa của dân tộc và một phong cách A Đông, cụ thể ở những phẩm chất sau: trung với nước hiếu với dân, yêu thương con người, cẩn kiệm liêm chính, chí công vô tư và tỉnh thần quốc tế trong sáng [24].
Giáo su Tran Văn Giàu với cuốn sách “ Giá trị tỉnh thin truyền thống của dân tộc Việt Nam” đã lý giải nguồn gốc sự hình thành các giá trị đạo đức Việt Nam và các giá trị đạo đức truyền thống cơ bản [9]. “Đạo đức học phương Đông cổ đại" của Vũ Tình nhấn mạnh đến các phẩm chất đạo đức theo quan niệm của Nha giáo. Năm 1994, cuốn sách "Có một nên đạo lý Việt Nam” xuất bản đã nói nhiễu về đạo lý làng xã và đạo lý cộng đẳng [32].PTS Tran Ngọc Khuê nghiên cứu “Xu hướng biến đổi tâm lý xã hội trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” đã hướng về sự xuất hiện của các giá trị đạo đức mới trong nền kinh tế thị trường [18]. Năm 1999, tác giả Trường Lưu nói nhiều về giá trị đạo đức trong giao tiếp văn hóa và sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong tác phẩm “Văn hóa đạo đức và sự tiến bộ xã hội" [50].
Năm 2000, cuốn sách "Một số vấn để về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội” của Huỳnh Khái Vinh để cập nhiều đến việc giải thích khái niệm dao đức [47]. Bể tài KXO7 — 10 “Anh hưởng của kinh tế thị trường đối với việc hình thành và phát triển nhân cách của con người Việt Nam” do TS Thái Duy Tuyên là chủ nhiệm. Các tác giả đã nêu lên những tích cực và tiêu cực mà nên kinh tế thị trường đang tác động đến nhân cách con người Việt Nam [49], Ngoài ra còn có một số bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: “Các dạng đạo đức xã hội” nói về đặc trưng của đạo đức theo sự phát triển của lịch sử [ L7]. "Những phẩm chất nhân cách cẩn giáo dục cho sinh viên” của tác giả Mạc Văn Trang đã để cao các nhẩm chất đạo đức truyền thống như lòng nhân ái, tỉnh kiến trì, sự tự tin.
Huỳnh Sơn với “Lối sống và sự lựa chọn các giá trị đạo đức trong lõi sống của thanh niên" đã để cập đến các giá trị của lối sống được học sinh trung học phổ thông đánh giá là quan trọng đối với bản thân [34]. Nhìn chung các để tài nghiên cứu về đạo đức chỉ nêu lên một cách chung chung về giá trị đạo đức và được để cập theo diện rộng với các giá trị truyền thống của dân tộc là chủ yếu. Chưa có để tài nào nghiên cứu vé thực trạng các giá trị đạo đức của học sinh trung học phổ thông, tìm hiểu xem các giá trị đạo đức của các em có phù hợp với chuẩn mực xã hội hay không trong giai đoạn có nhiều biến động như hiện nay. Đây chính là nét mới trong luận văn tốt nghiệp đại học này.
CÁC THUẬT NGỮ SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU 1. Tự nhận thức Chúng ta đã nhận định: tự ý thức bao gdm một sự thống nhất của nhận thức và các thành phan xúc cảm - ý chí. Tự ý thức là sự nhận thức về chính bản thân mình. có ý thức về “hiểu biết” riêng và có ý thức về xúc cảm riêng.
“Ty nhận thức là thành phan của tự ý thức”. Tự nhận thức được hiểu là quá trình nhận thức hướng vào chính cá nhân mình với những kết quả của quá trình đó Quá trình tự nhận thức có thể diễn ra với những mục đích khác nhau, có thể xuất phát từ những nguyên nhãn khác nhau và xuất phát từ những động cơ nhất định trong một hoạt động chủ định, có mục đích phù hợp. Tất nhiên, không nhất thiết chỉ trong hoạt động tự nhận thức con người mới có được những nhận thức vẻ bản thân. Trong khuôn khổ của những hoạt động khác, con người cũng có thể có được những nhận thức vé bản thân một cách 10 không chủ định, Điều đó xảy ra trong sự thống nhất với các quá trình ý thức khác nhau và xảy ra một cách gián tiếp.
Trong quá trình tự nhận thức, cá nhân có được những nhận thức mdi về bản than. Chất lượng của những nhận thức mới đó phụ thuộc vào một loạt những điều kiện bến trong, những điểu kiện bên ngoài, và phụ thuộc vào chất lượng của chính hoạt động mà trong đó nhận thức được hình thành “Con người có được sự tự nhận thức thực sự một cách nhanh nhất và tốt nhất nếu con người hành động và tự kiểm tra mình trong những tình huống sống biến động thay cho việc chỉ tập trung vào tự quan sát” (S. Trong quá trình tự nhận thức cá nhãn sẽ có được những quan điểm đối với bản thin và đẳng thời còn có một hệ thống nhận thức tương đối bén vững về bản thản, mỗi một nhận thức mới phải được hòa nhập vào hệ thống đó. -Nếu những nhận thức mới phù hợp với hệ thống nhận thức đã có thì dẫn đến sự xác nhận cũng như củng cố thêm nhận thức đã có tạo nên sự hòa nhập.
-Nếu những nhận thức mới không phù hợp với nhận thức đã có thì có sự tac động qua lại giữa thông tin mới và nhận thức đã có. Sự tác động này thường gắn với những trạng thái xúc cảm. Đặc biệt trong trường hợp này, những quá trình nhận thức mới có thể kích thích đưa đến sự cải tổ hệ thống nhận thức và hệ thống quan điểm đã có, Tự nhận thức với tư cách là thành phan của tự ý thức của nhân cách, là sự nhận thức về cái tôi riéng trong mối quan hệ với sự nhận thức thực tế khách quan, nhưng đẳng thời trong sự thống nhất với những quá trình ý thức, nó có chức năng điều chỉnh hành động có ý thức. Tự đánh giá * Khái niệm Sự vận dụng khái niệm “tự đánh giá” và xác định nội dung khái niệm nhìn chung còn chưa thống nhất.
Sau đây là một số quan điểm của những nhà tâm lí học về bản chất của tự đánh giá: I1 A.Lipkina [23] cho rằng: “Tu đánh giá là thái độ của con người đối với những năng lực, khả năng, những phẩm chất nhân cách cũng như hộ mặt bên ngoài của minh”. Những biểu tượng của đứa trẻ về những cái đã đạt được cũng như về những cái nố mong muốn đạt tới, dự án về tương lai của nó — hầu như còn chưa hoàn thiện nhưng có vai trò to lớn trong việc tự điểu chỉnh hành vi của trẻ nói riéng và hoạt động hoc tập nói chung — được phản ánh trong tự đánh giá. Qua kết quả nghiền cứu, A.