Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN THAM VẤN VỀ ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG. Các khái niệm có liên quan. Các tiếp cận lý thuyết. Sơ lƣợc về địa bàn nghiên cứu và đặc điểm mẫu nghiên cứu.
32 Chương 2: THỰC TRẠNG THAM VẤN VỀ ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG. Những vấn đề tâm lý liên quan đến đời sống gia đình của học sinh trung học phổ thông. Thực trạng tham vấn, những khó khăn hay những vấn đề tâm lý liên quan đến đời sống gia đình của học sinh phổ thông. Nhu cầu tham vấn về đời sống gia đình của học sinh THPT.
58 Chương 3: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI THAM VẤN VỀ ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG. Những yếu tố khách quan. Những yếu tố chủ quan. 70 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.
81 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 89 PHỤ LỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BGH: Ban giám hiệu GV: Giáo viên GVCN: Giáo viên chủ nhiệm HS: Học sinh PHHS: Phụ huynh học sinh THPT: Trung học phổ thông TLHĐ: Tâm lý học đƣờng TVTL: Tham vấn tâm lý TLTN: Trợ lý thanh niên TGHĐ: Thời gian hoạt động DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1. Đăc điểm mẫu nghiên cứu. Tỷ lệ học sinh THPT có bất đồng ở các mức độ với các thành viên gia đình (%) .Tỷ lệ học sinh THPT có bất đồng ở các mức độ với các thành viên gia đình chia theo giới tính học sinh (%) .Tỷ lệ học THPT có bất đồng với bố mẹ chia theo nghề nghiệp của bố mẹ (%).
Mức độ những vấn đề tâm lý học sinh trung học phổ thông gặp phải trong đời sống gia đình. Mức độ những vấn đề tâm lý học sinh trung học phổ thông gặp phải trong đời sống gia đình chia theo giới tính học sinh (tính điểm trung bình). Mức độ những vấn đề tâm lý học sinh trung học phổ thông gặp phải trong đời sống gia đình chia theo mức độ thời gian các thành viên gia đình có các hoạt động chung cùng nhau (tính điểm trung bình). Những tâm trạng, tâm lý mà các em thƣờng gặp trong mối quan hệ với gia đình.
Những tâm trạng, tâm lý mà các em thƣờng gặp trong mối quan hệ với gia đình chia theo giới tính học sinh. Những tâm trạng, tâm lý mà các em thƣờng gặp trong mối quan hệ với gia đình chia theo mức độ thời gian các thành viên gia đình có các hoạt động chung cùng nhau (tính điểm trung bình). Hƣớng giải quyết khi có những vấn đề tâm lý về đời sống gia đình. Các hình thức, dịch vụ tham vấn khác ngoài tham vấn tâm lý trong trƣờng học mà các em có nhu cầu sử dụng.
Các hình thức tham vấn mà học sinh mong muốn. Thời gian hoạt động của phòng tham vấn tâm lý. Những mong muốn của học sinh về chuyên viên tham vấn tâm lý. Các lý do học sinh không sử dụng các dịch vụ tham vấn tâm lý.
Tỷ lệ sử dụng các phƣơng thức tham vấn tâm lý chia theo mức sống gia đình. Tỷ lệ sử dụng các phƣơng thức tham vấn tâm lý chia theo vấn đề tâm lý của học sinh. Hành vi tham vấn tâm lý của học sinh THPT chia theo các vấn đề tâm lý thƣờng xuyên gặp phải. Hành vi sử dụng các dịch vụ tham vấn tâm lý của học sinh chia theo giới tính.
Hành vi sử dụng các dịch vụ tham vấn tâm lý của học sinh chia theo lớp học. Hành vi sử dụng các dịch vụ tham vấn tâm lý của học sinh chia theo sự nhận biết. 73 DANH MỤC CÁC BIỂU Biểu 3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến việc sử dụng các dịch vụ tham vấn tâm lý.
Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua, nền kinh tế của Việt Nam đã có bƣớc đột phá lớn. GDP hàng năm liên tục tăng nhanh tạo ra sự chuyến biến nhanh chóng về tất cả mọi mặt trong đời sống của con ngƣời Việt Nam. Bên cạnh những mặt tích cực mà nền kinh tế mới đem lại thì chúng ta cũng phải nhìn nhận thêm một số mặt hạn chế còn tồn tại và có xu hƣớng ngày càng gia tăng. Đó là sự tác động của kinh tế đến đời sống tình cảm, tâm lý của con ngƣời đặc biệt là giới trẻ mà trong đó điển hình là học sinh trung học phổ thông (HS THPT).
Chúng ta đều biết rằng các em HS THPT là lứa tuổi chuyến tiếp từ trẻ con sang ngƣời lớn cho nên các em có sự thay đổi rất lớn về sinh lý, tâm lý, nhận thức và cảm xúc. Trong cuộc sống từ sinh hoạt gia đình đến việc học ở trƣờng và hoạt động ngoài xã hội các em luôn phải đối mặt với nhiều vấn đề khúc mắc, tình huống bất ngờ nhƣ: áp lực học tập, bố mẹ la rầy, hay bị thầy cô bạn bè xa lánh, lúng túng về tâm sinh lý, tình yêu tuổi học trò, các em đứng trƣớc ngã ba đƣờng chọn lối rẽ vào đời mà không biết cách nhìn nhận và giải quyết nhƣ thế nào cho hợp lý. Do đó, các nhà tâm lý học đều cho đây là một trong những giai đoạn khủng hoảng và khó khăn trong cuộc đời của mỗi ngƣời. Với các bậc phụ huynh cũng cảm thấy bế tắc trong việc giáo dục con cái ở độ tuổi này.
Trong bối cảnh xã hội phát triển và hội nhập, gia đình Việt Nam đang có những biến đổi mạnh mẽ về cấu trúc, hình thái, quy mô và các mối quan hệ trong gia đình. Những giá trị, chuẩn mực truyền thống đã và đang bị tác động, thay đổi, xen lẫn với những chuẩn mực, hành vi của xã hội mới. Mối quan tâm, chăm sóc của một bộ phận cha mẹ dành cho con cái. Nền tảng đạo đức xã hội, nhân cách của một số trẻ em đang có nguy cơ bị lung lay, bởi chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân và thiếu vắng sự chăm sóc, bảo vệ của gia đình.
Nhận thức về tầm quan trọng của gia đình và ý nghĩa của sự hòa thuận, hạnh phúc của các thành viên trong gia đình đối với mỗi cá nhân, đặc biệt với các thành viên ở nhóm tuổi trung học phổ thông, Thủ tƣớng chính phủ đã ban hành Quyết định số 1028/QĐ-TTg phê duyệt Chƣơng trình giáo dục đời sống gia đình đến năm 2020. 1 Nhƣng điều đáng lo ngại hiện nay là một bộ phận gia đình đã không thật sự trở thành "tổ ấm" cho mỗi con ngƣời. Nếu cấu trúc gia đình lỏng lẻo, liên kết giữa các thành viên gia đình yếu, các thành viên gia đình không đƣợc đối xử bình đẳng, cha mẹ thiếu gƣơng mẫu và không có thời gian hoặc không quan tâm chăm sóc, giáo dục con cái, vợ chồng thƣờng xuyên xảy ra mâu thuẫn, xung đột, bạo lực gia đình gia tăng. thì gia đình khó có thể làm tốt chức năng giáo dục, các thành viên trong gia đình khó hòa thuận, hạnh phúc và đặc biệt con cái khó có thể sống trong tình yêu thƣơng, ấm no và hình thành nhân cách tốt.
Phần lớn những xung đột nảy sinh trong gia đình giữa cha mẹ và con cái là bắt nguồn từ những vấn đề liên quan đến học tập, về quan hệ bạn bè, sở thích, cách ứng xử trong gia đình, cách sử dụng tiền và nhận thức về hình thức bên ngoài của con cái. Trong khi con trẻ ở độ tuổi thanh thiếu niên đã có khả năng nhận thức thế giới một cách nhất định muốn chứng tỏ khả năng độc lập của bản thân đối với những công việc trong cuộc sống hàng ngày, thì những ông bố bà mẹ lại muốn duy trì sự phụ thuộc tuyệt đối của con cái vào mình. Đây là nguyên nhân sâu sa tạo nên xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con cái trong gia đình. Từ đó cho thấy sự cần thiết của việc tham vấn đề đời sống gia đình của học sinh nhằm đảm bảo sự phát triển tốt nhất về đời sống tinh thần cho học sinh.
Chính vì vậy, ngƣời nghiên cứu đã chọn đề tài: “Tham vấn về đời sống gia đình của học sinh THPT ở Thành phố Hồ Chí Minh” ( Chỉ nghiên cứu 03 trƣờng hợp là trƣờng THPT TRƢNG VƢƠNG, THPT NGUYỄN HỮU HUÂN, THPT LÊ MINH XUÂN) là đề tài nghiên cứu của mình. Lý do chọn 03 trƣờng THPT trên vì 03 trƣờng trên là ba trên vì 03 trƣờng đại diện cho học sinh ở cả nội thành, ngoại thành và cả vùng ven. Tình hình nghiên cứu đề tài 2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Cuối thế kỷ thứ XIX sang đầu thế kỷ thứ XX là giai đoạn đầu của công tác hƣớng nghiệp và tham vấn nghề.
Công tác trợ giúp nhằm tập trung vào việc cung cấp những phúc lợi căn bản cho ngƣời nghèo, hƣớng đến việc cho lời khuyên và cung cấp thông tin cho mọi ngƣời nhằm giúp cho cuộc sống của họ tốt hơn và có khả năng thích ứng với lao động công nghiệp. Trong giai đoạn này, công tác hƣớng 2 dẫn nghề – tham vấn nghề đƣợc phát triển, với phong trào sử dụng các thang đo – trắc nghiệm, của các lý thuyết nghiên cứu tâm lý cá nhân và sự ứng dụng đầu tiên của thuyết phân tâm học vào quá trình trị liệu những rối loạn tâm lý của con ngƣời. Những ngƣời đóng góp cho sự ra đời của tham vấn hƣớng nghiệp trong giai đoạn này là: Francis Galton (1822 – 1911) và Wilheim Wundt (1832 – 1920) ngƣời nh, đây là những nhà tâm lý học ứng dụng đầu tiên đã phát triển phòng thực nghiệm tâm lý. Stanley (1846 – 1924) và James Cattel (1860 – 1940), đã mở phòng thực nghiệm tại Đại học Harvard và Đại học Pennsylvania cuối thế kỷ thứ XIX, đã phát triển trắc nghiệm đo nhân cách đƣợc áp dụng trong tham vấn nghề.
[Dẫn theo 10, tr.50] Năm 1907, Jesse Davis (1817 – 1955) đã xây dựng cơ sở đào tạo đầu tiên về công tác hƣớng dẫn nghề tại Michigan. Tuy nhiên ngƣời có ảnh hƣờng đầu tiên là Frank Parsons (1854 – 1908) với sự ra đời cuốn sách “Cẩm nang hƣớng nghiệp”, đƣợc sử dụng trong trƣờng học. Những ý tƣởng của F. Parsons trong công tác hƣớng nghiệp đã thực sự trở thành nguyên tắc của nghề tham vấn sau này.
7 Vào giữa thế kỷ thứ XX, tham vấn tâm lý đã phát triển thành một ngành chuyên nghiệp. Williamson đƣa ra một lý thuyết hoàn chỉnh về tham vấn với tên gọi là “Tiếp cận đặc điểm và nhân tố”, ng đã xây dựng các bƣớc của một hoạt động tham vấn.