Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nhóm các công trình khoa học nghiên cứu về quan hệ lợi ích Quan hệ về lợi ích là vấn đề quan trọng trong nền sản xuất và đời sống nên từ lâu đã có nhiều tác giả và công trình khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về quan hệ lợi ích. - Trong tác phẩm “The Wealth of Nations” (1776) (Của cải của các dân tộc), Adam Smith (1723 - 1790) đã phân tích rất nhiều vấn đề về KTTT.
Khi nghiên cứu về phân công lao động xã hội, ông nhận thấy lợi ích kinh tế và phân công lao động xã hội là hai phạm trù có mối quan hệ với nhau, vì lợi ích kinh tế mà con người luôn tìm cách nâng cao trình độ, kỹ năng, kỹ xảo nhằm gia tăng lợi ích của bản thân. Khi giải thích mối quan hệ lợi ích kinh tế A.Smith cho rằng: Cần phải có sự công bằng trong đời sống xã hội, những người nào làm ra mọi của cải (lương thực, vải vóc, nhà cửa…) cho toàn xã hội, cần phải được hưởng một phần số của cải mà họ làm ra bằng sức lao động của chính họ. Ông cũng làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lợi ích chung của toàn dân tộc và lợi ích riêng của từng cá nhân: Không có một xã hội nào lại có thể phồn vinh, hạnh phúc trong khi đa số dân chúng sống khổ sở, cơ cực.Smith còn có một quan điểm hết sức độc đáo và thực tế khi ông cho rằng động lực thúc đẩy người lao động tạo ra nhiều của cải cho mỗi quốc gia, dân tộc chính là lợi ích kinh tế của mỗi cá nhân, hay nói cách khác giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích sẽ thúc đẩy tính tích cực của người lao động. Ông cho rằng: Sự đền bù đầy đủ lao động khuyến khích mọi sự phát triển và làm tăng thêm tính nhẫn nại, cần cù lao động của người dân bình thường; tiền công lao Xuất phát từ những lý do trên, nhận thức được tầm quan trọng, tính cấp thiết của vấn đề, NCS lựa chọn đề tài: “Quan hệ lợi ích trong thực hiện tự chủ tài chính ở các Bệnh viện Quân y (Qua thực tế Bệnh viện Quân y 103)” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ kinh tế, ngành Kinh tế chính trị động là sự cổ vũ, khuyến khích sự cần cù và tính siêng năng, theo bản chất của con người sự cần cù, siêng năng lại càng cao khi sự khuyến khích vật chất càng lớn.
Tuy nhiên, ông cũng cho rằng khi trả tiền công cao, người lao động làm hết sức mình và có thể hủy hoại sức khỏe của mình trong mấy năm. - Trong tác phẩm “Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khóa”, David Ricardo (1772 - 1823) đã nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực của kinh tế học như: lý thuyết giá trị, lý thuyết phân phối và những hệ quả của nó, lý thuyết tiền tệ… Trong chương Lý thuyết phân phối và những hệ quả của nó, ông đã nêu lên những vấn đề về quan hệ lợi ích giữa ba giai cấp: công nhân, nhà tư bản, địa chủ. Nhìn về hình thức, sự phân phối thu nhập giữa ba giai cấp trong học thuyết của D.Ricardo không khác nhiều với A.Smith, nhưng vì trong nghiên cứu của D.Ricardo bản chất của địa tô đã có sự thay đổi nên những hệ quả rút ra từ học thuyết của ông hàm chứa nhiều nội dung sâu sắc.Smith nhìn thấy sự hài hòa trong phân phối thu nhập, thì D.Ricardo lại vạch ra cuộc xung đột giữa các giai cấp xung quanh sự phân phối đó. Như vậy, lý thuyết về phân phối của D.Ricardo không đơn giản chỉ là giải thích về phân phối mà nó còn vạch trần sự xung đột lợi ích giữa các giai cấp, qua đó khẳng định lợi ích của giai cấp địa chủ khi đó mâu thuẫn với lợi ích của các giai cấp khác trong xã hội.
Phát hiện của D.Ricardo có vai trò quan trọng khi nghiên cứu mối quan hệ về lợi ích, trong xã hội tư bản lợi ích của các giai cấp không được giải quyết hài hòa: nếu lợi ích của người này tăng thì lợi ích của người kia sẽ giảm và điều đó tất yếu dẫn tới xung đột lợi ích, đồng nghĩa với việc mâu thuẫn trong xã hội ngày càng gia tăng.Mác viết: Công lao khoa học đó gắn liền với việc D.Ricardo phát hiện và nêu lên sự đối lập về mặt kinh tế của các giai cấp, như mối liên hệ nội tại đã chỉ rõ, và do đó mà khoa kinh tế chính trị đã nắm được và phát hiện được bản thân cái gốc rễ của cuộc đấu tranh lịch sử và quá trình phát triển lịch sử. Xuất phát từ những lý do trên, nhận thức được tầm quan trọng, tính cấp thiết của vấn đề, NCS lựa chọn đề tài: “Quan hệ lợi ích trong thực hiện tự chủ tài chính ở các Bệnh viện Quân y (Qua thực tế Bệnh viện Quân y 103)” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ kinh tế, ngành Kinh tế chính trị - Sách “Quan hệ lợi ích kinh tế giữa công nhân, nông dân và trí thức ở Việt Nam hiện nay” (2010) do Đặng Quang Định chủ biên đã đi vào phân tích lợi ích kinh tế của từng giai cấp: công nhân - nông dân - trí thức trong nền kinh tế hàng hóa. Tác giả cho rằng: lợi ích kinh tế biểu hiện ở số lượng của cải vật chất mà mỗi chủ thể có được khi tham gia vào các hoạt động kinh tế của xã hội và thỏa mãn nhu cầu kinh tế của họ [55]. Nội dung cuốn sách đã chỉ ra sự thống nhất trong quan hệ lợi ích kinh tế giữa công nhân, nông dân và trí thức ở Việt Nam hiện nay được thể hiện qua nhiều lĩnh vực như: công nghiệp chế biến, mô hình liên kết bốn nhà (nhà nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp và nhà khoa học).
Ngoài ra giữa công nhân, nông dân và trí thức còn liên kết, hợp tác đa dạng để cùng nhau thực hiện lợi ích kinh tế; thâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau. Trong một quy trình sản xuất, có sự tham gia của cả công nhân - nông dân - trí thức, điều này chứng tỏ lợi ích kinh tế giữa công nhân - nông dân - trí thức ngày càng thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau. Bên cạnh sự thống nhất về lợi ích giữa giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức, tác giả cũng chỉ ra được một số biểu hiện thiếu thống nhất trong quan hệ lợi ích giữa công nhân - nông dân - trí thức đó là: thiếu thống nhất ở những lợi ích kinh tế không cơ bản, lợi ích kinh tế tạm thời… Từ đó đưa ra một số giải pháp định hướng tăng cường sự thống nhất lợi ích kinh tế giữa công nhân - nông dân - trí thức ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, cuốn sách chưa đi sâu phân tích những mối quan hệ lợi ích cụ thể trong quan hệ lợi ích kinh tế giữa các chủ thể với nhau.
- Sách “Giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay” (2013) do Đỗ Huy Hà chủ biên đã dành riêng một chương để viết về những vấn đề lý luận và thực tiễn trong giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế. Theo tác giả: lợi ích là hiện tượng xã hội khách quan gắn liền với những chủ thể xác định, được nảy sinh từ nhu cầu và nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Đồng thời tác Xuất phát từ những lý do trên, nhận thức được tầm quan trọng, tính cấp thiết của vấn đề, NCS lựa chọn đề tài: “Quan hệ lợi ích trong thực hiện tự chủ tài chính ở các Bệnh viện Quân y (Qua thực tế Bệnh viện Quân y 103)” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ kinh tế, ngành Kinh tế chính trị giả đã phân tích, trong hoạt động thực tiễn của con người có thể nảy sinh rất nhiều lợi ích khác nhau: lợi ích kinh tế, chính trị, văn hóa…; lợi ích cá nhân, tập thể, xã hội…; lợi ích trước mắt, lâu dài… Nhưng trong hệ thống những lợi ích nói trên, lợi ích kinh tế giữ vai trò quyết định nhất. Vấn đề đặt ra là việc giải quyết đúng đắn, kịp thời các mối quan hệ lợi ích kinh tế, vì nếu chỉ tập trung thỏa mãn ngày càng nhiều lợi ích cho một chủ thể hay một nhóm chủ thể nào đó có thể dẫn đến thiệt hại về lợi ích cho một hoặc một nhóm chủ thể khác hoặc có thể đem lại lợi ích trước mắt nhưng lại ảnh hưởng đến lợi ích lâu dài của chính chủ thể đó.
Do đó, để giải quyết đúng đắn các mối quan hệ về lợi ích kinh tế tác giả đã chỉ ra: cần phải tạo điều kiện thỏa mãn tốt nhất lợi ích của tất cả các chủ thể có liên quan hoặc tham gia vào hoạt động kinh tế nảy sinh các quan hệ lợi ích đó; trong các hoạt động kinh tế cần phải đạt được sự đồng thuận, thống nhất lợi ích giữa các chủ thể trong xã hội [57]. - Luận án tiến sĩ kinh tế chính trị của Ngô Tuấn Nghĩa (2010) “Quan hệ lợi ích trên lĩnh vực sở hữu trí tuệ trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam” đã nêu lên được các chủ thể và phân tích làm rõ về sự hình thành, cơ chế, cách thức thực hiện lợi ích của các chủ thể trên lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Từ đó, luận án rút ra được bản chất, những nguyên tắc vận động mang tính quy luật của quan hệ lợi ích trên lĩnh vực sở hữu trí tuệ; thấy được những nhân tố ảnh hưởng tới mối quan hệ lợi ích giữa các chủ thể trên lĩnh vực sở hữu trí tuệ trong hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời, luận án cũng chỉ ra những biểu hiện thực tế, đưa ra những giải pháp đảm bảo sự hài hòa về quan hệ lợi ích trên lĩnh vực sở hữu trí tuệ trong hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam.