Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chế định từ chối, thay đổi người tiến hành tố tụng (THTT) trong tố tụng hành chính (TTHC) tại Việt Nam được ghi nhận lần đầu tiên trong Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996, sau đó tiếp tục được sửa đổi, bổ sung qua các năm 1998 và 2006. Mặc dù các văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý ban đầu cho việc bảo đảm tính khách quan, nhanh chóng và đúng pháp luật của quá trình giải quyết vụ án, thực tiễn áp dụng đã bộc lộ nhiều điểm bất cập. Các hạn chế chủ yếu gồm: chưa quy định đầy đủ một số chủ thể là người THTT dẫn đến thiếu cơ chế để họ từ chối hoặc bị thay đổi; thủ tục từ chối, thay đổi chưa rõ ràng; các căn cứ luật định còn quá ít, chưa bao quát các tình huống phát sinh trên thực tế, gây ảnh hưởng đến tính vô tư của quá trình xét xử.

Để khắc phục những hạn chế trên, Luật Tố tụng hành chính năm 2010 ra đời trên cơ sở kế thừa và hoàn thiện các quy định trước đó. Sự ra đời của đạo luật này đánh dấu bước tiến trong việc giải quyết tranh chấp hành chính, thể hiện qua số lượng vụ án hành chính được Tòa án thụ lý và giải quyết liên tục gia tăng. Người dân ngày càng đặt niềm tin vào cơ quan tài phán khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm bởi các quyết định hành chính (QĐHC) hoặc hành vi hành chính (HVHC). Tuy nhiên, các quy định hiện hành về từ chối, thay đổi người THTT vẫn bộc lộ những vướng mắc về mặt quy phạm và thực tiễn áp dụng: nhiều điều khoản chưa thống nhất, thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết, một số tình huống thực tế chưa được luật điều chỉnh dẫn đến việc áp dụng tùy tiện, thiếu đồng bộ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

Xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tính công bằng, vô tư và củng cố niềm tin của nhân dân vào cơ quan tư pháp, đề tài tập trung giải quyết 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ những vấn đề lý luận về từ chối, thay đổi người THTT trong TTHC theo quy định của pháp luật Việt Nam.
  2. Tìm hiểu, so sánh quy định về từ chối, thay đổi người THTT trong TTHC ở một số quốc gia trên thế giới (Cộng hòa Liên bang Đức, Thụy Điển, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa).
  3. Phân tích và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và hoạt động từ chối, thay đổi người THTT trong TTHC ở Việt Nam giai đoạn áp dụng Luật Tố tụng hành chính năm 2010.
  4. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng chế định này trong thực tiễn tư pháp nước ta.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, hệ thống quy phạm pháp luật và thực tiễn hoạt động từ chối, thay đổi người THTT trong TTHC Việt Nam; các quy định pháp luật tương ứng của Cộng hòa Liên bang Đức, Thụy Điển và Trung Quốc.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào các quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2010, Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP và các văn bản hướng dẫn thi hành; phân tích số liệu xét xử và các quyết định thay đổi người THTT trong giai đoạn từ ngày 01/7/2010 đến hết năm 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cải cách tư pháp.

Về cơ sở lý thuyết và pháp lý, nghiên cứu khai thác các nguồn tài liệu đa dạng:

  • Chuẩn mực pháp lý quốc tế: Điều 10 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (1948), Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR 1966), Điều 6 Công ước châu Âu về nhân quyền (1950) về nguyên tắc xét xử công bằng, độc lập và không thiên vị.
  • Hệ thống văn bản pháp luật quốc nội: Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 (sửa đổi năm 2011), Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Luật Tố tụng hành chính năm 2010 và Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.
  • Pháp luật nước ngoài: Luật Tòa án hành chính và Bộ luật Tố tụng dân sự (ZPO) Cộng hòa Liên bang Đức; Bộ luật Tố tụng Tư pháp và Luật TTHC Thụy Điển; Luật TTHC Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1990.
  • Nguồn dữ liệu học thuật và thực tiễn: Giáo trình Luật TTHC của Trường Đại học Luật TP.HCM, Trường Đại học Luật Hà Nội; các công trình nghiên cứu trên Tạp chí Khoa học pháp lý, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Luật học, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp; số liệu thống kê công tác giải quyết các vụ án hành chính của hệ thống Tòa án nhân dân từ năm 2010 đến năm 2013.

Về phương pháp thực hiện:

  • Chương 1: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, chứng minh, đối chiếu và luật học so sánh để làm sáng tỏ các khái niệm lý luận, bản chất pháp lý, ý nghĩa của chế định và kinh nghiệm quốc tế.
  • Chương 2: Sử dụng phương pháp thống kê, phân tích định lượng, phân tích án lệ thực tế và phương pháp tổng hợp - quy nạp để chỉ ra các vướng mắc, từ đó luận giải cơ sở cho các kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về từ chối, thay đổi người tiến hành tố tụng trong tố tụng hành chính

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và quy chế pháp lý điều chỉnh hoạt động từ chối, thay đổi người THTT, bao gồm bốn nội dung trọng tâm:

  1. Khái quát về người tiến hành tố tụng trong TTHC: Khóa luận phân tích các quan điểm học lý và khẳng định định nghĩa của Giáo trình Luật TTHC Việt Nam (Đại học Luật TP.HCM) là chuẩn xác: người THTT hành chính là những người mà theo quy định của pháp luật có nhiệm vụ, quyền hạn nhất định trong việc giải quyết vụ án hành chính và kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính. Theo khoản 2 Điều 34 Luật TTHC 2010, các chủ thể này gồm: Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên. Tác giả phân tích chi tiết địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ của từng chức danh theo các Điều 35, 36, 37, 38, 39, 40 Luật TTHC 2010.

  2. Khái niệm và ý nghĩa của chế định:

    • Từ chối THTT: Việc người THTT chủ động, tự nguyện đề nghị người có thẩm quyền không phân công mình tham gia giải quyết vụ án khi nhận thấy bản thân có thể không bảo đảm tính vô tư, khách quan.
    • Thay đổi người THTT: Việc người có thẩm quyền ra quyết định thay thế người THTT đã được phân công khi xuất hiện các căn cứ luật định hoặc theo yêu cầu hợp pháp của các chủ thể tố tụng.
    • Ý nghĩa pháp lý - xã hội: (i) Bảo đảm tính khách quan, đúng pháp luật, loại trừ các định kiến và xung đột lợi ích vật chất/tinh thần; (ii) Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trước Tòa án; (iii) Bảo đảm tính nghiêm minh và tuân thủ thủ tục tố tụng (vi phạm căn cứ thay đổi bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dẫn đến hủy án).
  3. Kinh nghiệm pháp luật quốc tế:

    • Cộng hòa Liên bang Đức: Điều 54 Luật Tòa án hành chính Đức dẫn chiếu áp dụng từ Điều 41 đến 49 ZPO. Đức phân định rõ hai nhóm căn cứ: Căn cứ tuyệt đối (Điều 41 ZPO gồm 7 trường hợp như bản thân/người thân là đương sự, quan hệ huyết thống 3 đời/hôn nhân 2 đời, từng là người đại diện, nhân chứng, trung gian hòa giải - Tòa án có nghĩa vụ đương nhiên loại trừ Thẩm phán và các quyết định trước đó bị coi là trái luật) và Căn cứ tương đối (Điều 42 ZPO - lo ngại về sự vô tư, đương sự phải nộp đơn và chịu nghĩa vụ chứng minh). Thẩm quyền quyết định thuộc lãnh đạo Tòa án (Điều 45 ZPO).
    • Thụy Điển: Điều 11 Luật TTHC quy định 6 trường hợp loại trừ (lợi ích cá nhân, người thân thích, từng tham gia giải quyết cấp dưới, nhận thù lao tư vấn, là nhân chứng...). Luật Thụy Điển cấm những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống ngồi chung trong cùng một Hội đồng xét xử (HĐXX). Đương sự không bắt buộc phải tự chứng minh mà Tòa án có trách nhiệm thẩm tra.
    • Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: Điều 47 Luật TTHC năm 1990 quy định đương sự có quyền yêu cầu thay đổi thành viên Tòa án nếu có lợi ích liên quan. Thẩm quyền quyết định thay đổi Chánh án/Chủ tọa thuộc về HĐXX; thay đổi thành viên Tòa án do Chánh án quyết định; thay đổi người THTT khác do Chủ tọa quyết định.
  4. Quy định của pháp luật TTHC Việt Nam:

    • Căn cứ chung (Điều 41): Đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự; đã tham gia với tư cách người bảo vệ quyền lợi, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch; có căn cứ rõ ràng khác cho rằng họ có thể không vô tư.
    • Căn cứ riêng: Đối với Thẩm phán/Hội thẩm (Điều 42), Kiểm sát viên (Điều 43), Thư ký Tòa án (Điều 44). Khóa luận làm rõ ngoại lệ tại khoản 2 Điều 9 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP: Thẩm phán là thành viên Ủy ban Thẩm phán cấp tỉnh hoặc Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao được tham gia xét xử nhiều lần cùng một vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm do yêu cầu về tỷ lệ biểu quyết định mức (phải có ít nhất 2/3 tổng số thành viên tham gia).
    • Thứ tự ưu tiên thay đổi khi có quan hệ thân thích giữa những người THTT: Thư ký Tòa án phải bị thay đổi trước; Kiểm sát viên bị thay đổi trước thành viên HĐXX; nếu các thành viên HĐXX thân thích với nhau thì Chánh án (trước phiên tòa) hoặc HĐXX (tại phiên tòa) quyết định người bị thay thế.
    • Quyền yêu cầu: Đương sự (người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan), người đại diện và người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự.
    • Thủ tục và thẩm quyền: Trước phiên tòa (bằng văn bản; Chánh án Tòa án / Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định; nếu người bị thay đổi là Chánh án/Viện trưởng thì do cấp trên trực tiếp quyết định); Tại phiên tòa (ghi biên bản; HĐXX quyết định việc thay đổi sau khi nghe ý kiến người bị yêu cầu, nhưng việc cử người thay thế vẫn thuộc thẩm quyền Chánh án Tòa án / Viện trưởng Viện kiểm sát theo Điều 46 Luật TTHC 2010).

Chương 2: Thực trạng từ chối, thay đổi người tiến hành tố tụng trong tố tụng hành chính và một số giải pháp hoàn thiện

Chương 2 tập trung phân tích số liệu công tác xét xử thực tế và chỉ rõ các mâu thuẫn, khoảng trống quy phạm trong Luật TTHC 2010:

  1. Thực trạng áp dụng qua số liệu thống kê (2010 - 2013): Kể từ khi Luật TTHC 2010 có hiệu lực, khối lượng công việc của Tòa án các cấp tăng mạnh, đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về bảo đảm tính khách quan của người THTT.

  2. Thực trạng bất cập trong các quy định pháp luật hiện hành:

    • Khoảng trống pháp lý đối với Chánh án Tòa án và Viện trưởng Viện kiểm sát: Mặc dù Điều 34 quy định họ là người THTT, nhưng Luật chỉ quy định căn cứ thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký mà không hề có điều luật quy định căn cứ trực tiếp để thay đổi Chánh án Tòa án và Viện trưởng Viện kiểm sát khi họ thực hiện quyền hạn quản lý, phân công án (không ngồi ghế HĐXX hay giữ quyền công tố trực tiếp). Trường hợp Chánh án là người bị kiện hoặc có quyền lợi liên quan nhưng không trực tiếp xét xử, luật chưa có cơ chế bắt buộc Chánh án phải chuyển quyền phân công án cho cấp phó hoặc báo cáo cấp trên, dẫn đến nguy cơ chỉ đạo thiếu khách quan.
    • Thiếu rõ ràng trong căn cứ "có căn cứ rõ ràng khác cho rằng họ có thể không vô tư": Cụm từ mang tính định tính cao tại khoản 3 Điều 41 chưa được giải thích thấu đáo trong Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP, tạo ra sự tùy nghi khi chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu thay đổi người THTT của đương sự.
    • Bất cập về thẩm quyền và thủ tục tại phiên tòa: HĐXX có quyền quyết định thay đổi người THTT tại phiên tòa nhưng không có quyền cử người thay thế (phải chờ Chánh án hoặc Viện trưởng phân công). Trường hợp không có Thẩm phán/Kiểm sát viên dự khuyết, việc hoãn phiên tòa gây kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
  3. Một số giải pháp hoàn thiện:

    • Hoàn thiện quy định pháp luật: Bổ sung điều luật quy định cụ thể căn cứ từ chối, thay đổi đối với Chánh án Tòa án và Viện trưởng Viện kiểm sát; ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết các tiêu chí xác định "căn cứ rõ ràng khác"; hoàn thiện quy định về cơ chế thay thế Thẩm phán, Kiểm sát viên dự khuyết nhằm tránh việc hoãn phiên tòa không cần thiết.
    • Các giải pháp tổ chức - thực thi: Nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức công vụ của đội ngũ Thẩm phán, Thư ký, Kiểm sát viên; tăng cường cơ chế giám sát tư pháp và phổ biến rõ quyền yêu cầu thay đổi người THTT cho các đương sự ngay từ giai đoạn thụ lý vụ án.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã tổng hợp và lượng hóa bức tranh xét xử TTHC tại Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2013 qua bảng số liệu thực tế:

Cấp xét xử Giai đoạn 01/7/2010 - 01/7/2011 Giai đoạn 2012 - 2013 Mức độ biến động bình quân
Sơ thẩm Thụ lý: 1.681 vụ
Giải quyết: 1.075 vụ (63,95%)
Thụ lý: 8.792 vụ
Giải quyết: 5.830 vụ
Thụ lý tăng 202,02%/năm
Giải quyết tăng 224,65%/năm
Phúc thẩm Thụ lý: 553 vụ
Giải quyết: 402 vụ (72,69%)
Thụ lý: 2.212 vụ
Giải quyết: 2.976 vụ
Thụ lý tăng 200,00%/năm
Giải quyết tăng 245,77%/năm
Giám đốc thẩm, tái thẩm Thụ lý: 57 vụ
Giải quyết: 40 vụ (90,07%)
Thụ lý: 95 vụ (tăng 41 vụ)
Giải quyết: 85 vụ (86,73%)
Thụ lý giảm 35,95%/năm
Giải quyết giảm 36,73%/năm (Đưa ra xét xử: 38 vụ)

Về mặt đóng góp khoa học, đề tài là công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện đầu tiên ở cấp độ khóa luận cử nhân về chế định từ chối, thay đổi người THTT theo Luật TTHC 2010 (khắc phục tính đơn lẻ, cục bộ của các bài viết tạp chí trước đó vốn chỉ tập trung vào một vài chức danh như Chánh án hoặc Viện trưởng). Đề tài chỉ ra khoảng trống lập pháp liên quan đến căn cứ thay đổi đối với người đứng đầu cơ quan THTT khi thực hiện thẩm quyền quản lý, đồng thời cung cấp các bài học lập pháp giá trị từ mô hình tố tụng của Đức, Thụy Điển và Trung Quốc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được hoàn thành vào năm 2014, do đó phạm vi nghiên cứu thực tiễn và hệ thống quy phạm chỉ giới hạn trong khuôn khổ Luật TTHC năm 2010 và Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP. Đề tài chưa thể bao quát các sửa đổi toàn diện của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cũng như thực tiễn áp dụng án lệ hành chính trong giai đoạn sau năm 2014.

Hướng nghiên cứu mở rộng cần tiếp tục theo dõi việc sửa đổi, bổ sung quy chế tố tụng đối với các chức danh tư pháp trong các đạo luật tố tụng hiện hành, đánh giá cơ chế bảo đảm tính độc lập của Thẩm phán hành chính trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và xây dựng Tòa án điện tử.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích đối với:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Hành chính, Luật Tố tụng hành chính và Tư pháp học trong việc nghiên cứu cơ chế bảo đảm nguyên tắc xét xử công bằng, vô tư.
  • Những người nghiên cứu đề tài về cải cách thủ tục tư pháp, cơ cấu tổ chức Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân.
  • Cán bộ thực tiễn (Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư) khi cần tra cứu các căn cứ, thẩm quyền, thủ tục và thứ tự ưu tiên trong việc giải quyết yêu cầu thay đổi người THTT tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm.
  • Phần so sánh pháp luật Đức (căn cứ tuyệt đối/tương đối theo ZPO) và Thụy Điển (cơ chế loại trừ thân tộc trong HĐXX) có giá trị cao trong nghiên cứu luật học so sánh.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo Luật TTHC 2010, những chủ thể nào được xác định là người tiến hành tố tụng hành chính? Căn cứ khoản 2 Điều 34 Luật TTHC 2010, người THTT hành chính gồm 6 chức danh: Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên.

2. Trường hợp Thẩm phán đã tham gia xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm thì có bắt buộc phải từ chối hoặc bị thay đổi khi xét xử lại vụ án đó không? Theo khoản 2 Điều 9 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP, Thẩm phán là thành viên của Ủy ban Thẩm phán TAND cấp tỉnh hoặc Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao vẫn được quyền tham gia giải quyết vụ án nhiều lần theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Quy định ngoại lệ này nhằm bảo đảm đủ số lượng thành viên tham gia xét xử theo luật định (ít nhất 2/3 tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm phán hoặc Hội đồng Thẩm phán).

3. Thứ tự ưu tiên thay đổi người tiến hành tố tụng khi có quan hệ thân thích với nhau được pháp luật xác định như thế nào? Căn cứ kết cấu Điều 42, 43, 44 Luật TTHC 2010 và hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP:

  • Nếu Thư ký Tòa án là người thân thích với những người THTT khác trong vụ án thì Thư ký Tòa án phải là người từ chối hoặc bị thay đổi đầu tiên.
  • Nếu Kiểm sát viên là người thân thích với một trong các thành viên HĐXX thì Kiểm sát viên là người phải từ chối hoặc bị thay đổi (không thay đổi thành viên HĐXX).
  • Nếu các thành viên trong HĐXX là người thân thích của nhau thì không có thứ tự ưu tiên mặc định; việc thay đổi ai sẽ do Chánh án Tòa án (trước phiên tòa) hoặc HĐXX (tại phiên tòa) quyết định.

4. Pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức phân loại các căn cứ thay đổi Thẩm phán như thế nào? Luật Tòa án hành chính Đức dẫn chiếu áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự (ZPO), chia làm 2 nhóm căn cứ:

  • Căn cứ tuyệt đối (Điều 41 ZPO): Gồm 7 trường hợp luật định cụ thể (Thẩm phán/người thân là đương sự, quan hệ huyết thống 3 đời, hôn nhân 2 đời, từng là đại diện, nhân chứng, hòa giải viên...). Khi rơi vào trường hợp này, Tòa án đương nhiên loại trừ Thẩm phán và mọi quyết định trước đó của Thẩm phán đều bị coi là trái pháp luật.
  • Căn cứ tương đối (Điều 42 ZPO): Khi có lo ngại về sự thiếu vô tư; đương sự phải nộp đơn và có nghĩa vụ chứng minh căn cứ yêu cầu.

5. Thẩm quyền quyết định thay đổi và phân công người thay thế tại phiên tòa được phân định ra sao? Theo Điều 46 Luật TTHC 2010, tại phiên tòa, HĐXX có thẩm quyền ra quyết định thay đổi người THTT (sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi). Tuy nhiên, HĐXX không có quyền cử người thay thế; quyền phân công Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thay thế thuộc về Chánh án Tòa án; quyền phân công Kiểm sát viên thay thế thuộc về Viện trưởng Viện kiểm sát.

Kết luận

Khóa luận "Từ chối, thay đổi người tiến hành tố tụng trong tố tụng hành chính" của tác giả Nguyễn Trường An đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận nền tảng, đối chiếu kinh nghiệm lập pháp quốc tế và đánh giá sâu sắc thực trạng áp dụng Luật TTHC 2010 tại Việt Nam. Công trình đã nhận diện chính xác các khoảng trống quy phạm, đặc biệt là cơ chế thay đổi đối với người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng và các căn cứ định tính chưa được hướng dẫn chi tiết. Các giải pháp lập pháp và thực thi do tác giả đề xuất mang giá trị khoa học thiết thực, góp phần bảo đảm nguyên tắc xét xử khách quan, công bằng và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân trong tố tụng hành chính.