CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỪ CHỐI, THAY ĐỔI NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH 1. Khái quát về người tiến hành tố tụng trong tố tụng hành chính 1. Khái niệm người tiến hành tố tụng Người THTT hành chính là những người được nhà nước trao quyền để đảm nhiệm các hoạt động tố tụng, thực hiện hầu hết chức năng của các cơ quan THTT. Khi tiến hành các hoạt động tố tụng, họ nhân danh nhà nước và sử dụng quyền lực nhà nước để giải quyết đúng đắn vụ án hành chính1.
Người THTT hành chính là những người có vai trò chính trong việc làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án nhằm giải quyết vụ án được khách quan, đúng đắn, đảm bảo quyền và lợi ích của các đương sự. Chính vì thế, việc tìm hiểu khái niệm người THTT hành chính là cần thiết, giúp chúng ta có nhận thức đúng đắn về những chủ thể này. Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm người THTT hành chính. Theo từ điển tiếng Việt năm 2006 của Viện ngôn ngữ học Việt Nam thì tiến hành có nghĩa là làm, thực hiện việc đã định trước2.
Còn tố tụng nói chung là việc thưa kiện tại Tòa (xét xử các việc tố tụng)3. Như vậy, có thể hiểu người THTT là những người thực hiện công việc giải quyết vụ thưa kiện tại Tòa. Tuy nhiên, nếu hiểu khái niệm người THTT bằng cách ghép từ trong từ điển tiếng Việt thì chúng ta sẽ chưa có cái nhìn toàn diện về người THTT hành chính. Bởi lẽ, theo cách hiểu của từ điển tiếng Việt thì người THTT chỉ bao gồm những thành viên của Hội đồng xét xử, tức những người trực tiếp thực hiện công việc xét xử và đưa ra kết quả giải quyết vụ án mà chưa đề cập đến những chủ thể khác cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án như Chánh án Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án.
Chánh án Tòa án mặc dù trong nhiều trường hợp không trực tiếp giải quyết vụ án như các thành viên của Hội đồng xét xử nhưng hoạt động của Chánh án Tòa án lại có ý nghĩa tố tụng quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án4. Có thể nói, hoạt động của Chánh án Tòa án góp phần rất lớn cho việc giải quyết vụ án hành chính được kịp thời, chính xác, đảm bảo công bằng cho các bên trong vụ án. Tiếp đến, 1 Nguyễn Thị Thương Huyền, Dương Hoán (2012), “Bàn về việc thay đổi người tiến hành tố tụng là Chánh án Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát”, Tạp chí khoa học pháp lý, (06), tr. 2 Viện ngôn ngữ học Việt Nam (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb.
Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr. 3 Viện ngôn ngữ học Việt Nam, tlđd (2), tr. 4 Đại học Luật thành phố Hồ Chí minh (2012), Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hồ Chí Minh, tr.
2 Thư ký Tòa án mặc dù không trực tiếp giải quyết vụ án nhưng qua thực tiễn tố tụng cho thấy Thư ký Tòa án là người cộng sự đắc lực của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án nói riêng và trong việc thực hiện chức năng xét xử của Tòa án nói chung5. Do đó, những hành vi tố tụng của Thư ký Tòa án cũng ảnh hưởng ít nhiều đến quá trình giải quyết vụ án. Còn đối với Kiểm sát viên thì họ cũng không có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính vì điều này xuất phát vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân chỉ có chức năng kiểm sát chứ không có chức năng xét xử như Tòa án6. Chính vì thế, bản thân Kiểm sát viên là thành viên của của Viện kiểm sát nên phải thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với chức năng của cơ quan mình là Viện kiểm sát nhân dân chứ không thể thực hiện những hoạt động khác nằm ngoài chức năng, nhiệm vụ của cơ quan mà họ đang hoạt động.
Thế nhưng, mặc dù không có chức năng giải quyết vụ án hành chính nhưng sự tham gia của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hành chính có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hành chính được kịp thời và đúng pháp luật. Do đó, nếu chúng ta chỉ căn cứ vào cách hiểu người THTT theo từ điển tiếng Việt thì sẽ chưa có cái nhìn chính xác và đầy đủ về người THTT hành chính. Từ điển Luật học không đề cập đến khái niệm người THTT mà chỉ liệt kê những ai được xem là người THTT bao gồm: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa7. Mặc dù không nói rõ nhưng các chủ thể được liệt kê trong từ điển Luật học sẽ thích hợp hơn khi dùng để chỉ người THTT hình sự.
Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì người THTT hành chính là người đại diện quyền lực nhà nước tiến hành các hoạt động tố tụng hành chính bao gồm: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án8. Mặc dù vậy, đây là khái niệm quá rộng do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước luôn đại diện quyền lực nhà nước khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình chứ không chỉ những người THTT hành chính khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình mới đại diện quyền lực nhà nước. Giáo trình Luật TTHC Việt Nam của trường đại học Luật Hà Nội cũng không đưa ra khái niệm người THTT mà chỉ liệt kê những ai được xem là người THTT 5 Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tlđd (4), tr. 6 Điều 107 Hiến pháp sửa đổi Hiến pháp 1992 và Điều 1 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002.
7 Nguyễn Hữu Đắc, Ngô Văn Thâu, Lê Kim Quế, Nguyễn Hữu Viện, Lê Đức Tiết (1999), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr. 8 Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.
3 theo Luật TTHC 2010. Mặc dù không đưa ra khái niệm cụ thể nhưng theo cách phân tích của giáo trình thì có thể hiểu người THTT hành chính là những người có quyền tiến hành những hoạt động mang tính quyền lực nhà nước nhằm thẩm tra, xem xét và giải quyết khách quan, đúng pháp luật vụ án hành chính9. Theo tập bài giảng Luật TTHC Việt Nam của tác giả Lê Thị Bích Chi có đưa ra khái niệm người THTT hành chính là những chủ thể có thẩm quyền, nhân danh nhà nước để thực hiện quyền và nghĩa vụ theo trình tự, thủ tục do pháp luật TTHC quy định10. Tuy nhiên, khái niệm người THTT theo quan điểm của người viết còn khá chung chung, trừu tượng nên cũng chưa làm rõ thế nào là người THTT hành chính.
Đồng thời, tác giả quan niệm rằng người THTT bao gồm hai nhóm chủ thể là cơ quan THTT và cá nhân THTT11. Thế nhưng, có thể nói quan niệm này là chưa hợp lý vì theo quy định tại Điều 34 Luật TTHC 2010 thì rõ ràng đã có sự phân biệt giữa cơ quan THTT và người THTT. Hơn nữa, không phải đến khi Luật TTHC 2010 ra đời thì pháp luật mới thể hiện sự phân biệt này mà trong các văn bản pháp luật trước đó như Hiến pháp năm 1992, Luật Tổ chức TAND, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Pháp lệnh TTGQCVAHC đã có những quy định thể hiện sự phân biệt giữa cơ quan THTT và người THTT. Sự phân biệt này hoàn toàn có cơ sở pháp lý khi nghiên cứu các quy định của pháp luật TTHC vì qua nghiên cứu các quy định trong các văn bản pháp luật nêu trên thì thấy được vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan THTT khác với vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng người THTT12.
Theo giáo trình Luật TTHC Việt Nam của trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh thì người THTT hành chính là những người mà theo quy định của pháp luật có những quyền hạn và nhiệm vụ nhất định trong quá trình giải quyết một vụ án hành chính và kiểm sát việc giải quyết một vụ án hành chính cụ thể13. Theo quan điểm của tác giả thì khái niệm người THTT hành chính trong giáo trình Luật TTHC Việt Nam của trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh hợp lý hơn cả. Bởi lẽ, khái niệm này đã bao quát được những chủ thể mặc dù không trực tiếp giải quyết vụ án hành chính nhưng cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, đó là những chủ thể kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính được 9 Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.
10 Lê Thị Bích Chi (2013), Tập bài giảng Luật tố tụng hành chính Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 11 Lê Thị Bích Chi, tlđd (10), tr. 12 Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tlđd (4), tr.
13 Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tlđd (4), tr. 4 đúng pháp luật và kịp thời như Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên. Đồng thời, khái niệm đã thể hiện sự phân biệt rõ ràng giữa cơ quan THTT và người THTT, phù hợp với tinh thần của Luật TTHC 2010 xuất phát từ chỗ vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hai nhóm chủ thể này là khác nhau. Như vậy, người THTT hành chính được hiểu là người có những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định trong trong việc giải quyết vụ án hành chính và kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính.
Họ nhân danh nhà nước tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật nhằm giải quyết đúng đắn, khách quan vụ án hành chính. Những người tiến hành tố tụng trong tố tụng hành chính Theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Luật TTHC 2010, những người THTT hành chính bao gồm: Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên. * Chánh án Tòa án Chánh án Tòa án là người đứng đầu Tòa án, tổ chức và chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ của Tòa án. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án TAND các cấp được quy định cụ thể trong Luật Tổ chức TAND năm 2002.
Với tư cách là người THTT hành chính, nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Tòa án được quy định cụ thể tại Điều 35 Luật TTHC 2010.