đặt vấn đề bảo tồn và phát huy hội Gióng trong xã hội đƣơng đại. Tiếp nối những công trình này là công trình Hội Gióng di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại [13] giúp ngƣời đọc có cái nhìn đầy đủ hơn kể từ khi Hội Gióng đƣợc công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại đến nay. 18 Về mặt văn bản, hiện nay trong công trình Lễ hội Thánh Gióng [106] ở phần I – Di tích và huyền thoại đã có 27 bản dịch và tổng hợp các ghi chép về truyền thuyết Thánh Gióng, ở Tổng tập Văn học dân gian người Việt [59], tập 4, truyền thuyết dân gian ngƣời Việt có 8 chuyện về Thánh Gióng đƣợc sƣu tập từ các ghi chép; tập 5 có truyện Thánh Gióng ở xã Bộ Đầu. Không chỉ là đề tài của nhiều công trình nghiên cứu, các chuyên luận, hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc năm 2010 còn đƣợc UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Nhƣ vậy, với đầy đủ tính chất của một di sản văn hóa, Thánh Gióng và hội Gióng nói chung mà cốt lõi là TTTG đã đƣợc giới nghiên cứu trong và ngoài nƣớc thừa nhận là một sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, đƣợc lƣu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, đƣợc lƣu truyền bằng truyền miệng, và các hình thức lƣu truyền khác. Cùng với nó, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc quan tâm nghiên cứu tổ chức thành các cuộc hội thảo khoa học, tập trung nhiều bài viết, nhiều tranh luận mang tính khoa học thời sự về Thánh Gióng. Năm 2010, Hội thảo khoa học quốc tế: Bảo tồn và phát huy lễ hội cổ truyền trong đời sống xã hội đương đại (trường hợp hội Gióng) [107], do UBND thành phố Hà Nội và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức đã có hàng trăm nhà khoa học trong và ngoài nƣớc tham gia. Trong đó có nhiều bài viết đề cập trực tiếp đến hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc.
Các nhà nghiên cứu nhƣ: Hoàng Lƣơng, Trần Lê Bảo, Nguyễn Tri Nguyên, Nguyễn Bích Hà, Bùi Quang Thanh, Lê Thị Hoài Phƣơng, Nguyễn Văn Phong, Đỗ Lan Phƣơng, Đoàn Minh Châu, Vũ Anh Tú, Lê Thị Minh Lý, Từ Thị Loan, Phạm Nam Thanh, Hoàng Đức Cƣờng. đã có nhiều bài viết tiếp cận từ các góc nhìn khác nhau. Nhƣ vậy, cùng với những công trình có đóng góp to lớn nhƣ các công trình của G. Dumoutier, Nguyễn Văn Huyên, Trần Quốc Vƣợng, Nguyễn Tự Cƣờng (tức Nhƣ Hạnh), Cao Huy Đỉnh, Tạ Chí Đại Trƣờng.
cách tiếp cận liên ngành đã 19 khiến cho các kết quả nghiên cứu về TTTG có nhiều thành tựu từ nhiều góc nhìn khác nhau. Các lý thuyết nghiên cứu và quan điểm tiếp cận truyền thuyết Thánh Gióng 1. Một số khái niệm cơ bản *Truyện theo Từ điển tiếng Việt [173, tr.328] thì truyện là tác phẩm văn học kể chuyện bằng hình tƣợng, bằng hƣ cấu nghệ thuật. Theo Từ điển thuật ngữ Văn học thì truyện là phƣơng thức tự sự tái hiện đời sống bên cạnh hai phƣơng thức khác là trữ tình và kịch đƣợc dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học.
Là phƣơng thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vi con ngƣời làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay về một cái gì đó. Tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện, gắn liền với cốt truyện là một hệ thống nhân vật đƣợc khắc họa nhờ các thủ pháp nghệ thuật đa dạng.Về phƣợng diện thể loại văn học, trên cơ sở phƣơng thức phản ánh tự sự đã hình thành loại hình tự sự. Có thể dựa vào tiêu chí nội dung hoặc tiêu chí hình thức để phân chia các tác phẩm tự sự thành các thể loại nhỏ hơn. Chia theo nội dung thể loại ta sẽ có: tác phẩm mang chủ đề lịch sử dân tộc, thế sự, đạo đức, đời tƣ.
Chia theo hình thức ta sẽ có các thể loại cơ bản: anh hùng ca, truyện, tiểu thuyết, truyện ngắn, ngụ ngôn… Trong nhiều bài viết khác thƣờng nói Truyện Ông Gióng, Truyện Thánh Gióng và đôi khi trong luận án NCS cũng sử dụng cách nói này để chỉ truyền thuyết Thánh Gióng bởi đó là cách gọi quen thuộc khi thể loại truyền thuyết chƣa đƣợc xác định rõ ràng về mặt thể loại. Mặt khác, trƣớc khi xác định là thuộc thể loại truyền thuyết, TTTG đƣợc xếp vào truyện kể dân gian nói chung, có khi là truyện thần quái, truyện cổ tích, anh hùng ca… *Truyện kể dân gian: Là các chuyện kể của nhân dân các thời đại đƣợc sáng tác và lƣu truyền bằng miệng từ khi chƣa có chữ viết, sau này đƣợc sƣu tầm 20 và ghi chép lại gồm các thể loại nhƣ: thần thoại, truyền thuyết, truyện cƣời, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn… Vào thời trung đại, các nho sĩ khi sƣu tập và ghi chép các loại thần thoại, truyền thuyết, cổ tích thƣờng chỉ dùng chung một từ là “truyện”, vì thời đó chƣa có sự phân loại các thể loại rạch ròi nhƣ ngày nay (NCS đã sơ bộ nói về vấn đề này ở 1. * Truyền thuyết Trên thế giới, khoa học về truyền thuyết dân gian hay còn gọi là truyền thuyết học, vốn là một thuật ngữ đƣợc dịch từ tiếng Đức: Volksagen kunde. Volk có nghĩa là dân gian, sagen có nghĩa là truyền thuyết, kunde có nghĩa là môn khoa học.
Đây là một thuật ngữ đã khá thông dụng trong folklore học quốc tế thời cận đại. Tƣơng đƣơng với từ sage trong tiếng Đức, tiếng Anh có legend và tiếng Pháp có légende. Nói chung, theo folklore học thế giới thì truyền thuyết là một thuật ngữ chỉ một bộ phận ngôn từ đặc biệt và sớm được chú ý với tư cách là một thể loại. Truyền thuyết ngay từ đầu đã là một trong ba thể loại chính của tự sự dân gian: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích (Quan niệm này sớm định hình trong bộ sƣu tập của anh em Grim trong Thần thoại Đức (1835).
Cách phân biệt này đã đƣợc các nhà nghiên cứu ngữ văn dân gian coi nhƣ có tính chất hƣớng đạo trong một thời gian dài). Ở Việt Nam, có lẽ Đào Duy Anh là ngƣời sớm sử dụng từ truyền thuyết khi ông viết về vấn đề “Những truyền thuyết thời thƣợng cổ nƣớc ta” trong Tạp chí Tri tân (số 30 năm 1942): “Sách xƣa của ngƣời Trung Quốc không chép việc Triệu Đà đánh An Dƣơng Vƣơng để chiếm Tƣợng quận, nhƣng cứ truyền thuyết ấy, nếu ta bỏ đi những yếu tố hoang đƣờng thì cũng còn lại cái kỷ niệm của một cuộc chiến tranh hẳn có” [59, tr. Đến những năm 50 của thế kỷ XX, một loạt công trình nghiên cứu liên tiếp ra đời nhƣ: Lược khảo về thần thoại Việt Nam [19], Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam [95], Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam [96]. thuật ngữ truyền 21 thuyết đã đƣợc sử dụng nhiều hơn và đƣợc bàn đến ở những mức độ khác nhau.
Nhóm Lê Quí Đôn khi viết văn học sử đã bƣớc đầu định nghĩa truyền thuyết: Truyền thuyết là tất cả những chuyện lƣu hành trong dân gian, có thật xảy ra hay không thì không có gì đảm bảo. Nhƣ vậy có những truyền thuyết lịch sử, mà cũng có những truyền thuyết khác, hoặc dính dáng về một đặc điểm địa lý, hoặc kể lại gốc tích một sự vật gì, hoặc giải thích những phong tục tập quán, hoặc nói về sự tích các nghề nghiệp và tất cả những chuyện kỳ lạ khác [95, tr. Nguyễn Đổng Chi lại sơ bộ nhận xét về sự xuất hiện của truyền thuyết nhƣ sau: “Truyền thuyết là những truyện lịch sử chỉ có thể có khi con ngƣời có ý thức về lịch sử của mình, về xứ sở và đất đai của mình” [96, tr. Khoảng những năm 1970, công trình Truyền thống anh hùng trong loại hình tự sự dân gian [60], đã tập hợp đƣợc nhiều bài viết có giá trị về truyền thuyết, lúc này, việc nghiên cứu truyền thuyết về mặt thể loại mới bắt đầu đƣợc quan tâm.
Trong đó, đặc biệt phải kể đến chuyên khảo Truyền thuyết anh hùng trong thời kỳ phong kiến, dày 60 trang in của Kiều Thu Hoạch đƣợc dƣ luận đồng tình và coi nhƣ cái mốc đầu tiên trong nghiên cứu truyền thuyết nhƣ một thể loại của folklore (văn hóa dân gian). Tại chuyên khảo này Kiều Thu Hoạch đã định nghĩa về truyền thuyết nhƣ sau: Truyền thuyết là một thể loại truyện kể truyền miệng, nằm trong loại hình tự sự dân gian; nội dung cốt truyện của nó là kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phƣơng theo quan điểm của nhân dân. Biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trƣơng, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng những yếu tố hƣ ảo, thần kỳ nhƣ cổ tích và thần thoại; nó khác cổ tích ở chỗ không phản ánh xung đột gia đình, sinh hoạt xã hội và số phận cá nhân mà thƣờng phản ánh những vấn đề thuộc phạm vi quốc 22 gia, dân tộc rộng lớn; nó khác thần thoại ở chỗ nhào nặn tự nhiên và xã hội trên cơ sở sự thật lịch sử cụ thể chứ không phải hoàn toàn trong trí tƣởng tƣợng và bằng trí tƣởng tƣợng [60, tr. Từ năm những 1960 đến 1990, thể loại truyền thuyết đã đƣợc nhiều tác giả quan tâm viết trong giáo trình đại học, hoặc viết báo, tạp chí với các tác giả nhƣ Nguyễn Đổng Chi, Trần Văn Giàu (Tầm Vu), Bùi Văn Nguyên, Đỗ Bình Trị, Đinh Gia khánh, Chu Xuân Diên, Hoàng Tiến Tựu, Phan Kế Hoành - Trần Quốc Vƣợng (Phan Trần), Kiều Thu Hoạch, Bùi Quang Thanh.
Năm 1990, trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam do Lê Chí Quế chủ biên, tái bản năm 2004 [122], ở mục viết về thể loại truyền thuyết có nhận xét: Trong khoa nghiên cứu văn học dân gian ở nhiều nƣớc trên thế giới việc coi truyền thuyết là một thể loại riêng biệt đã trở thành truyền thống không phải bàn luận nhiều. Nếu có chăng là ở sự tranh luận về nội hàm, ngoại diên của khái niệm và đặc trƣng thi pháp của nó mà thôi. Nhƣng ở nƣớc ta vấn đề này cần phải biện giải thêm [122]. Trong đó các nhà khoa học Việt Nam khi nghiên cứu truyền thuyết bao giờ cũng đặt nó trong mối quan hệ với thần thoại và cổ tích.
Tuy cách sắp xếp truyền thuyết trong hệ thống các thể loại văn học dân gian có khác nhau, nhƣng xác định bản chất thể loại của truyền thuyết thì có thể tìm thấy tiếng nói tƣơng đồng giữa các nhà khoa học.