Chương 1: Tổng quan về Yên Sở, huyện Hoài Đức,Thành phố Hà Nội Chương 2: Truyền thuyết về Lý Phục Man Chương 3: Lễ hội rước Giá và tín ngưỡng thờ Lý Phục Man 7. Đóng góp của Luận văn Luận văn lần đầu tiên tập hợp nguồn tư liệu về truyền thuyết Lý Phục Man, xác lập được những mô típ cơ bản và giá trị của truyền thuyết này và nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu về truyền thuyết và lễ hội rước Giá ở Yên Sở, Hoài Đức. Đi từ truyền thuyết Lý Phục Man đến lễ hội rước Giá, luận văn góp phần chứng minh cho đặc trưng của văn học dân gian là mang tính nguyên hợp, đồng thời cũng cho thấy nét độc đáo, riêng biệt cũng như những nét tương đồng của lễ hội nơi đây với các lễ hội cổ truyền của Việt Nam nói chung. Luận văn của chúng tôi do đó cũng góp phần bảo lưu và phát triển những giá trị lịch sử và văn hóa truyền thống của một vùng đất, bổ sung vào gia tài văn học dân gian của dân tộc.
Với những đóng góp trên, luận văn cũng hy vọng góp một phần nhỏ bé vào việc giữ gìn và phát huy vốn văn học cổ truyền của dân tộc nói chung và văn học dân gian ở Yên Sở, Hoài Đức, Hà Nội nói riêng. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ YÊN SỞ - HOÀI ĐỨC - HÀ NỘI 1. Vị trí địa lý huyện Hoài Đức Hoài Đức là một huyện trù phú của tỉnh Hà Tây cũ, nay thuộc ngoại thành Hà Nội. Huyện có diện tích tự nhiên là 8383.78 ha trong đó có diện tích canh tác là 5899,6 ha.
Huyện Hoài Đức nằm ở phía Tây Thủ đô Hà Nội, phía Đông giáp huyện Từ Liêm, phía Tây và Bắc giáp huyện Đan Phượng, phía Nam giáp các huyện Chương Mĩ, Thanh Oai. Địa danh Hoài Đức đã xuất hiện từ lâu. Theo sách “Việt sử thông giám cương mục” thì từ năm 622, trụ sở huyện Hoài Đức được rời về đất Tống Bình (tức Hà Nội). Trải qua các thời kì lịch sử, tên gọi và địa giới của Hoài Đức biến đổi nhiều lần.
Dưới thời Lý là phủ Ứng Thiêm. Đến thời nhà Lê, sau chiến thắng của cuộc kháng chiến chống quân Minh, triều đình đã chia lại các đơn vị hành chính. Cả nước lúc đó được chia làm 13 đạo, dưới đạo là phủ, châu huyện. Hoài Đức khi ấy là phủ Phụng Thiên.
Cho tới thời Nguyễn, kể từ 1831, phủ Phụng Thiên được đổi thành phủ Hoài Đức thuộc tỉnh Sơn Tây. Sau đó dưới thời Pháp thuộc, kể từ 1905 Hoài Đức vẫn giữ nguyên tên gọi và đơn vị hành chính, song địa giới nhiều lần thay đổi và thuộc tình Hà Đông. Năm 1942, địa giới Hoài Đức thu hẹp lại do sự hình thành địa lý Hoàn Long thuộc Hà Nội. Như vậy, có thể nói, Hoài Đức là một huyện thay đổi địa giới nhiều so với các vùng lân cận.
Tuy nhiên, thời kì ổn định nhất về địa giới của Hoài Đức là từ năm 1808 đến 1942. Vì vậy, có thể lấy những số liệu và tình hình về mọi mặt trong giai đoạn này để tìm hiểu huyện Hoài Đức trước Cách mạng thánh Tám năm 1945. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong những năm đầu thế kỷ XX, Hoài Đức là một phủ giàu có và đông dân nhất của tỉnh Hà Đông. Theo cuộc điều tra dân số năm 1921, thì ở Hà Đông chỉ có phủ Hoài Đức và huyện Thanh Oai có số dân vượt trên 100 000 người.
Hoài Đức đứng đầu với dân số 126,291 người, chiếm 15,8% dân số cả tỉnh Hà Đông. Người dân Hoài Đức phân bố cư trú theo 13 tổng, 92 làng, xã. Các tổng đó là: Cổ Nhuế, Dịch Vọng, Đại Mỗ, Hạ Trì, La Nội, Phú Gia, Phương Canh, Tây Tựu, Thượng Hội, Thượng Trì, Xuân Tảo, Yên Lãng… Hoài Đức là một vành đai bao quanh phía Tây và Tây Nam Hà Nội, lại liền kề thị xã Hà Đông. Với vị trí đó, Hoài Đức trở thành một cửa ngõ quan trọng ra vào Thủ đô Hà Nội - một trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội của cả nước.
Hoài Đức là cầu nối giữa thủ đô Hà Nội với nhiều miền đất nước, tới miền Trung du Bắc Bộ, là vùng bản lề giữa đồng bằng với miền núi. Nhiều mạch máu giao thông quan trọng từ Hà Nội qua Hoài Đức rồi tỏa đi mọi miền của đất nước. Đường quốc lộ 11A qua Hoài Đức, Phùng, thị xã Sơn Tây lên Trung Hà nối với Vĩnh Phúc cửa ngõ của Việc Bắc. Đường 71, sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ cũng là những mạch máu giao thông thủy bộ quan trọng, góp phần tạo điều kiện tập trung cung cấp hoặc giải tỏa cho Hà Nội.
Cũng do đặc điểm vị trí đó, Hoài Đức trở thành một địa bàn có ý nghĩa quan trọng chiến lược về mặt quân sự. Miền đất này vừa là vành đai, áo giáp, hậu cứ bảo vệ Thủ đô Hà Nội, vừa là một cửa ngõ từ miền trung du, trung tâm quân sự Sơn Tây, Ba Vì, căn cứ địa Việt Bắc tiến xuống đồng bằng Bắc Bộ, tiến vào thành phố. Với địa bàn như vậy, Hoài Đức có lợi thế trong xây dựng căn cứ, phòng thủ cũng như tiến công kẻ thù, đồng thời cũng là vùng tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch trong các cuộc chiến tranh bảo vệ quê hương, giữ gìn đất nước. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chính từ vị trí trọng yếu như vậy, giữa vùng đồng bằng phì nhiêu thuộc lưu vực của các dòng sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ, Hoài Đức nằm trong một miền đất cổ, có bề dày lịch sử hàng ngàn năm, là một trong những địa bàn sinh tụ chính của cư dân Văn Lang thời dựng nước.
Hệ thống đậm đặc những di tích khảo cổ trên địa bàn thuộc sơ kì thời đại đồ đồng cách ngày nay 3000 - 4000 năm đã khẳng định quá trình định cư tồn tại và phát triển lâu đời của người Việt cổ ở nơi đây. Kết quả nghiên cứu các di chỉ khảo cổ trên địa bàn huyện do Viện khảo cổ học Việt Nam tiến hành khai quật trong những năm 1968-1969 đã cho thấy: Tại di chỉ Vinh Quang (thuộc địa phận xã Cát Quế ) trong tầng văn hóa lớp trên đã tìm thấy nhiều dụng cụ như lưỡi rìu chiến, búa chiến, mũi tên có thể coi là những kiệt tác của vũ khí đồng thau. Cùng lớp đó, ta đã tìm thấy một số đồng tiền bán lạng Lữ Hậu (180-198 trước Công nguyên). Tầng văn hóa này tiêu biểu cho giai đoạn 3 văn hóa Gò Mun.
Ở tầng lớp dưới đã tìm thấy nhiều công cụ sản xuất, đồ trang sức, tiền ốc, các loại đồ gốm có màu sắc, hoa văn trang trí phong phú và 11 sọ người. Niên đại các-bon phóng xạ của di chỉ là năm 1905 trước Công Nguyên, thuộc giai đoạn thứ ba của thời đại các vua Hùng dựng nước. Các di chỉ đồng Dền, gò Chiền Vậy (thuộc xã Di Trạch) cũng là những di chỉ tiêu biểu cho giai đoạn văn hóa Gò Mun. Từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc, cư dân trên địa vực này đã chung lưng đấu cật, cùng nhau khai phá đất đai, cải tạo đồng ruộng, chống chọi với thiên tai, dịch họa, lập nên xóm làng trù phú và sớm có cuộc sống ổn định.
Với những điều kiện vật chất và truyền thống dân gian, với cơ sở kinh tế chính là nông nghiệp trồng lúa nước, rau màu, chăn nuôi, trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa tơ 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nổi tiếng cùng các nghề đúc đồng, luyện sắt, nghề mộc và tạc tượng tinh xảo đã khẳng định cư dân vùng Hoài Đức là một bộ phận hợp thành cư dân nước Văn Lang của các vua Hùng, chủ nhân của nền văn minh sông Hồng rực rỡ. Nhân dân Hoài Đức tự hào chính đáng về truyền thống vẻ vang lâu đời của quê hương mình trong quá trình dựng nước, giữ nước của dân tộc. Hoài Đức nằm trong một vùng đậm đặc những quần thể di tích lịch sử văn hoá cổ. Hầu như làng nào trong huyện cũng có những di tích hoặc có cả một quần thể di tích lịch sử văn hóa.
Hoài Đức có tới 49 di tích được Bộ Văn hóa công nhận là những di tích bảo tàng cấp Quốc gia và được gọi là một trong những huyện có nhiều di tích lịch sử- văn hóa nhất tỉnh Hà Tây cũ. Chỉ nghiên cứu riêng các di tích lịch sử - văn hóa nghệ thuật trên địa bàn huyện cùng những truyền thống giàu tính nhân văn, những nhân vật lịch sử đã trở thành các vị thần thành hoàng làng, các công trình kiến trúc nghệ thuật và các sinh hoạt văn hóa lễ hội sinh động, cũng thấy nổi bật lên quá trình lịch sử phát triển của quê hương. Hoài Đức thực sự là một vùng tiêu biểu, gắn liền với tiến trình lịch sử dân tộc, với bản sắc văn hóa, đời sống tinh thần, những thành tựu văn hóa vật chất phong phú và đẹp đẽ thể hiện sinh động những truyền thống cần cù sáng tạo trong xây dựng và truyền thống anh dũng, quật cường của tổ tiên trong sự nghiệp bảo vệ quê hương, đất nước. Hoài Đức – vùng đất văn hóa văn hiến 1.1 Hoài Đức nổi tiếng với những danh nhân 1.1 Lý Nam Đế Lý Bí còn gọi là Lý Bôn – người lãnh đạo nhân dân ta nổi dậy đánh đuổi quân đô hộ nhà Lương, lập nhà nước Vạn Xuân (năm 544), đánh dấu bước phát 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triển mới của phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc sau hơn 500 năm dưới thời Bắc thuộc.
Năm 542, Lý Bí khởi binh tiến công quân Lương. Được sự hưởng ứng của đông đảo hào kiệt và nhân dân, chỉ sau ba tháng, Lý Bí đã chỉ huy quân chiếm được thành Long Biên (Bắc Ninh). Trước khí thế tiến công của nghĩa quân, Tiêu Tư – Thứ sử Giao Châu lúc này cùng một số quan lại bỏ trốn về Quảng Châu.Với đội nghĩa quân dũng cảm, dưới sự lãnh đạo của ông, ngay từ trận đầu quân Lương đã bị thua đau, ông liên tiếp đánh tan các trận phản kích của giặc Lương và giành thắng lợi hoàn toàn. Ông chọn ngày 2 tháng Giêng năm Giáp Tý (544) là ngày lên ngôi Hoàng Đế, gọi là Lý Nam Đế, lấy niên hiệu là Thiên Đức, đặt Quốc hiệu là Vạn Xuân.
Lý Bí là người Việt Nam đầu tiên xưng Hoàng Đế, cũng là người đầu tiên xác định vị trí trung tâm của đất nước để đặt Kinh Đô. Thị trấn Trạm Trôi huyện Hoài Đức ngày nay là nơi Lý Bí được Pháp tổ Thiền Sư đón về Phật Tự từ lúc tuổi thơ.